Nhà thơ Giang Nam: Hãy sống hết mình vì đất nước

Nhà thơ Giang Nam (ảnh) đã ở tuổi 83 mà trông như khoảng ngoài 60. Ông nổi tiếng với bài thơ Quê hương mà biết bao thế hệ đã thuộc nằm lòng. Ông dành cho PV một cuộc trò chuyện thú vị.

Nhà thơ Giang Nam: Hãy sống hết mình vì đất nước - ảnh 1

Ông là người đã trải qua hai cuộc kháng chiến, làm cán bộ cách mạng lúc bí mật, khi công khai; rồi lãnh đạo văn hóa... Theo ông, điều gì quan trọng nhất trong cuộc sống?

Nhà thơ GIANG NAM: Chúng ta đều là con cháu của một dân tộc hiển hách. Tôi nhờ đi hoạt động cách mạng từ rất sớm mà trở thành nhà thơ và may mắn có được những bài thơ mọi người yêu thích. Chính vì vậy nên tôi thấy cái quý giá nhất của cuộc sống chính là cuộc sống. Cuộc sống cho ta tất cả rồi cũng chính cuộc sống sẽ lấy đi tất cả, nếu ta không biết trân trọng và gìn giữ.

Nhà thơ có thể cho biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ Quê hương vốn rất nổi tiếng và sống mãi với thời gian?

- Chuyện dài lắm, tôi cũng đã kể một số lần và viết trong cuốn hồi ký Sống và viết ở chiến trường. Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, tại chiến trường miền Trung (dưới chân núi Hòn Dù, cách TP Nha Trang hơn 40 cây số về phía Tây). Lúc ấy tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó Bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh làm việc (tại một căn chòi nhỏ được lá rừng che kín). Anh hỏi tôi về tình hình công tác, sức khỏe... Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu... Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình.

Trong đêm tĩnh lặng giữa rừng núi bạt ngàn, thỉnh thoảng nghe tiếng nai “tác, tác” gọi bạn rất gần; trong nỗi đau đớn tột cùng tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào. Lúc ấy không phải tôi làm thơ mà tôi ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài:

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

Có một điều không thực nhưng lúc ấy là thực, đó là người con gái ấy (vợ tôi) không chết, mà sau này tôi mới biết, do chúng mang đi giam giữ hết nơi này đến nơi khác cơ sở không tìm ra.

Người thẩm định đầu tiên những dòng chữ tột cùng đau đớn của tôi cũng chính là đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy. Anh đọc xong góp ý: “Tư Gương nè, bài thơ của anh rất xúc động, hay thì có hay nhưng hơi buồn. Ráng giữ vững tinh thần nghe anh”. Từ góp ý với thơ anh chuyển sang ý khác mất rồi! Sau đó tôi gửi bài thơ ra Hà Nội cho Báo Thống Nhất vì đó là tờ báo duy nhất được Trung ương chuyển vào Nam cho chúng tôi lúc đó. Tôi gửi đi nhưng cũng chẳng hy vọng gì, nếu may thì nó được đăng trên báo mà thôi. Thật bất ngờ, vào khoảng tháng 6-1961, đang trên đường công tác từ huyện miền núi Khánh Sơn ra huyện Khánh Vĩnh, ở một trạm nghỉ, mở đài Tiếng nói Việt Nam tình cờ được nghe công bố kết quả giải thưởng thơ 1960 của Báo Văn Nghệ, bài thơ Quê hương của tôi được giải nhì. Thật là mừng hết chỗ nói và cũng là nguồn động viên, thúc giục vô cùng lớn đối với anh chị em đang hoạt động ở miền Nam chúng tôi. 

Sau này tôi được biết qua kể của anh Hoài Thanh - nhà phê bình văn học nổi tiếng - cũng là thành viên giám khảo cuộc thi. Anh Hoài Thanh cho biết: Bài thơ Quê hương từ miền Nam gửi ra, do các anh bên báo Thống Nhất chuyển qua đã gây bất ngờ cho hội đồng giám khảo. Trong hoàn cảnh miền Nam nước sôi lửa bỏng những năm 60 mà một bài thơ viết về tình yêu, về sự mất mát, hy sinh mà vẫn tươi tắn, không bi lụy là một hiện tượng.

Khi bàn về trao giải có hai luồng ý kiến: trao giải nhất vì đây là một bài thơ hay, xúc động; hai là bài thơ hay thì có hay nhưng có thể ảnh hưởng không tốt đến tinh thần chiến đấu của đồng bào miền Nam, vì vậy chỉ nên trao giải thấp. Tôi là người đứng về phía ý kiến thứ nhất. Ý kiến ban giám khảo cho đến phút cuối vẫn không đồng nhất, nên đã chọn giải pháp thỏa hiệp là trao giải nhì. Tôi nhất trí với ban giám khảo nhưng cũng đã phát biểu tại cuộc họp: bài Quê hương không được trao giải cao nhưng tôi tin rằng nó sẽ sống mãi với thời gian.

Tên thật ông là Nguyễn Sung, sinh năm 1929, tại xã Ninh Bình, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; thế còn bút danh đã trở thành như tên chính: Giang Nam?

- Chính nhà thơ Hồ DZếnh đã cho tôi cái bút danh đó. Lúc đang học Thành Chung ở Quy Nhơn tôi mê thơ của Hồ DZếnh và Huy Cận, trong một bài thơ của Hồ DZếnh có câu:

Tô Châu lớp lớp phủ kiều

Trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam

Giang Nam ở đây là vùng đất rộng lớn phía Nam của Trung Quốc, nhưng không hiểu sao hai từ Giang Nam nó gợi cho tôi một sự lãng mạn, huyền bí và có cái gì đó như xứ Nam của đất nước mình. Tôi thấy thích và lấy làm bút danh.

Ông từng làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, Tổng Biên tập Báo Văn Nghệ, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa, hiện nay là Phó Chủ tịch thường trực Hội UNESCO của tỉnh; quan điểm của ông về văn nghệ, đặc biệt về thơ?

- Tôi đến với thơ từ không chuyên trở thành chuyên nghiệp thông qua hoạt động cách mạng. Thế nên tôi khẳng định một điều: tất cả những gì thuộc về đất nước là vô cùng thiêng liêng. Chúng ta hãy sống hết mình vì đất nước và hãy loại bỏ những gì nhân danh đất nước để làm bậy, để hủy hoại hình ảnh đất nước...Nhà thơ sẵn sàng chấp nhận mọi thứ, miễn là chân thực với mình. Chỉ có chân thực với chính mình mới có thơ giá trị. Thơ là cái tôi riêng, cái bản ngã riêng của mỗi cá nhân và hãy nói tiếng nói của lòng mình; chứ đừng dùng thơ làm sự tiến thân, làm trang sức cho mình... Tôi tin rằng lớp trẻ sẽ tìm ra những con đường, những ngả đường và những khám phá mới cho thơ.

 

Theo SGGP

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác