Nhà thơ liệt sĩ Vũ Đình Văn và những câu thơ tiên cảm

Từ thành phố Nam Định, theo đường 10 khoảng 7km, gặp ga Trình Xuyên thì rẽ trái, qua chợ Gạo, qua trường THCS Nguyễn Đức Thuận là đến xã Đại Thắng, huyện Vụ Bản, quê hương của nhà thơ – liệt sĩ Vũ Đình Văn.

Nhà thơ – liệt sĩ Vũ Đình VănNhà thơ – liệt sĩ Vũ Đình Văn

Dù hôm ấy trời nóng khủng khiếp, nhưng đã tự hứa với vong hồn Vũ Đình Văn, tôi vẫn một mình phóng xe máy về Đại Thắng. Đó là một vùng quê thuần nông, nghèo. Đường làng phơi đầy rơm rạ. Đang giữa vụ gặt, gương mặt người  nông dân nào trông cũng đen đúa, sắt seo.

Bác Nguyễn Văn Thành, người trông coi nghĩa trang liệt sĩ của xã nói: mộ phần của Vũ Đình Văn đang ở trong nghĩa trang này. Bác dẫn tôi vào để tôi chụp một “pô” ảnh ngôi mộ của Văn. Bác Thành cho biết: gia đình, họ hàng Vũ Đình Văn hiện nay không còn một ai sống ở quê.

Cụ tổ họ Vũ của Vũ Đình Văn có nghề làm thuốc Bắc ở làng, nhưng đến đời ông Vũ Văn Chấp, bố đẻ Vũ Đình Văn thì chuyển cả nhà về Hà Nội, tiếp tục làm nghề thuốc, ở phố Lãn Ông. Ngay như cái làng Tư An, quê gốc họ Vũ cũng đã san phẳng từ dạo “Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn”.

Trên nền những ngôi nhà cũ thiết kế một trại chăn nuôi lợn tập thể. Hết thời bao cấp thì cái trại chăn nuôi ấy không tồn tại được nữa. Bây giờ trên thềm đất ấy là mấy cái lò gạch đang bốc khói.

Vũ Đình Văn sinh tháng 2 năm 1951 ở phố thuốc bắc Lãn Ông. Học cấp một, cấp hai, cấp ba, đại học ở Hà Nội. Nhưng thuở thiếu thời Vũ Đình Văn lại gắn bó sâu sắc với cái làng Tư An, bởi tâm hồn người thi sĩ tương lai vương vấn một mảng hồn quê. Hơn nữa, trên cánh đồng làng này còn có ngôi mộ người mẹ của Văn, bà Đỗ Thị Hạ. Văn hay về quê còn vì ngôi mộ ấy...

Vũ Đình Văn hẳn không thể ngờ đấy là lần cuối cùng mình trở về Nam Định thăm mộ mẹ. Văn đi bộ đội tháng 12 năm 1971, khi anh đang học năm thứ ba khoa Văn, Đại học sư phạm Hà Nội. Đúng một năm sau Vũ Đình Văn đã hy sinh khi anh mới 22 tuổi. Chỉ có tròn 12 tháng tuổi quân mà người lính sinh viên Vũ Đình Văn đã làm nên bao điều lớn lao, mệnh hệ.

Trong khóa huấn luyện tân binh gấp gáp ở Hà Trung – Thanh Hóa, Vũ Đình Văn được đơn vị đánh giá là một người lính có tinh thần lạc quan và có trái tim quả cảm, làm điểm tựa tinh thần cho nhiều bạn bè đồng đội.

Huấn luyện xong, đơn vị của Văn hành quân vào “cái cối xay thịt Quảng Trị” chiến đấu. Đang chiến đấu thì lại nhận lệnh hành quân trở ra Bắc tham gia chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Ra đến Quảng Bình, gặp quãng đường bom đạn cày xới, cái xe Vũ Đình Văn ngồi đã bị đổ; Văn bị thương trầy xước tay chân. Nhưng không sao.

Cả đại đội hùa vào dựng xe dậy, lại hành quân tiếp. Văn được bổ sung về đơn vị tên lửa đóng ở xã Đồng Mai, huyện Thanh Oai- Hà Tây. Đơn vị tên lửa của Vũ Đình Văn quần nhau với lũ B52 Mỹ cho đến gần cuối chiến dịch thì Văn hy sinh. Một loạt bom bi ném xuống trận địa.

Một quả bom bi mẹ rơi gần chỗ Văn đang làm nhiệm vụ. Lúc ấy vào buổi trưa. Hai người đồng đội của Văn bị xé nát thân thể, hy sinh tại chỗ. Văn bị bom bi găm đầy mình, nhưng hãy còn thoi thóp thở, người ta đưa Văn về trạm phẫu thuật, mãi tới sáu giờ chiều Văn mới trút hơi thở cuối cùng...

Thơ Vũ Đình Văn sâu sắc và ấm áp, gần gặn với cuộc sống, dễ thuộc, và thường chỉ xoay quanh hai chủ đề lớn mà thời ấy người lính quan tâm: Chiến tranh và Tình yêu. Hầu như tất cả những người yêu văn học thời đó, nhất là những người yêu văn học mặc áo lính, không có mấy ai không thuộc một đôi bài thơ của Vũ Đình Văn.

Chờ qua cửa khẩu đêm nay

Đoàn xe hàng đi nấp trong cây

Xuống phà lần chót

Bọn xích chúng tôi sốt ruột

Kêu rầm rù rung cả đồi mua

Đêm rất xanh, chẳng ai đi đèn rùa

Người lái xe chiến trường,

trăng trong đôi mắt...

(Đêm hành quân qua phà Long Đại)

...Thơ chiến trường của Vũ Đình Văn còn nhiều bài hay, nhiều câu hay, nhưng vì bài viết, không thể trích dẫn dài thêm.

Còn đây là thơ tình yêu của Vũ Đình Văn:

Cái cầu thang hai đứa sang nhau

Không hiểu sao ngày càng ngắn lại

Có một điều em chẳng nhớ đâu

Là anh hỏi bậc nào hôm ấy...?

(Mười ba bậc cầu thang)

Thật là tinh tế, nhuần nhị! Người lính Vũ Đình Văn cho tới lúc hy sinh mới có một mối tình đầu, duy nhất. Nàng cũng là sinh viên đại học. Tên nàng là KL. Hẳn là cái đêm ấy họ đi bên nhau, leo mười ba bậc cầu thang cái căn nhà ở phố Lãn Ông, đến một bậc nào đó KL đã thể hiện tình yêu với Vũ Đình Văn bằng một cái nắm tay hoặc một nụ hôn đầu còn ngượng ngập.

Dù chỉ có thế nhưng với mối tình đầu thì nó vô cùng quan trọng, không dễ mà quên được. Vậy cho nên người lính Vũ Đình Văn mới viết “Là anh hỏi bậc nào hôm ấy?” như để nhắc nhở người mình yêu. Dường như từ câu thơ ấy ta có thể suy đoán Vũ Đình Văn đã linh cảm thấy mối tình của họ sẽ không trọn vẹn, dù nó rất đẹp.

Người con gái có tên là KL ấy thực ra đã lạc vào trái tim Vũ Đình Văn ngay từ thuở họ cùng học với nhau ở ngôi trường cấp ba Cao Bá Quát. Khi hai người cùng vào đại học thì tình yêu càng thêm mãnh liệt. Nhưng phải đến lúc Vũ Đình Văn vào bộ đội thì hai người mới ngỏ lời tỏ tình. KL rất xinh đẹp, hát hay.

Dạo Vũ Đình Văn đóng quân ở Hà Trung, có lần KL từ Hà Nội vào thăm. Cái đêm ấy nàng ở lại đơn vị với các chiến sĩ. Trong buổi sinh hoạt văn nghệ KL hát bài “Xa khơi” khiến cả đại đội xúc động rơi nước mắt. Còn người yêu cô, anh lính binh nhì– nhà thơ trẻ, sau cái đêm gặp gỡ rồi chia ly ấy trái tim đã rung lên để cho ra đời một bài thơ “Nửa sau khoảng đời”.

Ôi cái đêm hành quân rất vội

Mắt em, mắt anh ngàn ấy vì sao

Còi lên đường, những vì sao xôn xao

- Thôi về đi em. Hai đứa cười chóng mặt.

Đêm hành quân, anh nhớ em quá thể

Khoảng đời đầu có nhớ khoảng đời sau

Ở đây núi rừng xanh, lại nghe xanh sóng biển

Đố em tìm, em chẳng thấy anh đâu...

Vũ Đình Văn đi vào tuyến lửa. KL vì những nguyên do rất đời thường mà không còn giữ được tình yêu trọn vẹn với Văn. Bởi vậy, khi Vũ Đình Văn hy sinh, nàng mang nặng một nỗi niềm không dễ chia sẻ. Sau này vào Huế dạy học, sống cùng chồng con, nhưng nàng vẫn lập bàn thờ riêng cho Vũ Đình Văn. Ngày giỗ, ngày tết nàng hương khói cẩn trọng.

Năm 2005, KL mắc bệnh ung thư. Trước lúc ra đi, nàng nói với người thân, đại khái, đừng phục thuốc men cho nàng nữa, hãy sớm “giải thoát” cho nàng, để nàng về thế giới bên kia với mối tình đầu đẹp như thể không có gì trên đời đẹp hơn của nàng...

Vũ Kim Dung, em gái Vũ Đình Văn kể rằng, vì mẹ mất sớm, bố ở vậy với cảnh gà trống nuôi con nên anh em họ rất vất vả. Họ có 5 anh em: 4 trai, 1 gái. Vũ Đình Văn là thứ ba.

Sống giữa Thủ đô Hà Nội mà anh em họ chưa bao giờ được ngày hai bữa cơm no; chưa khi nào họ dám bỏ tiền chụp một pô ảnh. Vũ Đình Văn thì phải tới khi vào bộ đội mới có một pô ảnh riêng.

Trong 5 anh em thì Vũ Đình Văn và Vũ Kim Dung “hợp gu” nhau nhất, gắn bó với nhau qua rất nhiều kỷ niệm. Năm Vũ Đình Văn học lớp 8 (tựa như lớp 10 bây giờ), Vũ Kim Dung học lớp 6 (như lớp 8 bây giờ), trong hoàn cảnh chiến tranh sơ tán, hai anh em ở cách xa nhau, vì nhớ em, Văn đã viết thơ tặng Dung:

Người em tôi trọ học ở nơi xa

Chiều nay chắc vui hòa cùng bè bạn

Em đang nghĩ về một bài thầy giảng

Hay ngắm hoàng hôn trong ráng mỡ gà...

Vũ Kim Dung cũng là người lưu giữ tất cả những kỷ vật của Vũ Đình Văn cho tới hôm nay.

Vũ Đình Văn hy sinh hôm trước thì hôm sau Nguyễn Quang Quỳnh, đồng đội của Văn, ra bưu điện Vân Đình đánh một bức điện về cho Dung: “Dung ơi, em thắp hương cho mẹ và nhớ thắp hương cho...”. Vì hoàn cảnh chiến tranh và kỷ luật quân đội mà người lính có tên là Quỳnh đã không được phép nói rõ Văn đã hy sinh.

Nhưng đọc điện thì Dung hiểu điều gì đã xảy ra với người anh trai tài hoa của cô. Mặc cho giá rét tiết đại hàn, Vũ Kim Dung và cậu em trai Vũ Trọng Bình đạp xe đi tìm. Theo con dấu bưu điện thì rõ ràng có chữ Vân Đình, nhưng họ đi mãi, đi mãi, chẳng thấy.

Trên đường đi, cứ chỗ nào có trận địa pháo, trận địa tên lửa là họ lại xông vào hỏi han, dò tìm. Cuối cùng thì hai chị em cũng tìm được ngôi mộ anh mình trên một cánh đồng nham nhở hố bom và mùi thuốc súng như hãy còn váng vất đâu đây!

Vũ Kim Dung nói: “Em không ngờ anh Văn vào bộ đội lại thay đổi giọng thơ nhanh đến thế. Giọng thơ anh ấy viết trong quân đội lạc quan, hồn nhiên chứ không lãng mạn và buồn như giọng thơ anh ấy làm trước đó. Mà thật lạ, ngay từ lúc chưa đi bộ đội, anh ấy đã có những câu thơ như ám vào thân phận mình. Em đọc anh nghe xem có đúng vậy không nhé:

Mồ nâu đỏ mấy nén nhang

Một quầng lửa tím chém ngang vầng trời

Đồng chiêm trắng bạc như vôi

Miếu ba cô một bóng người lảng đi...

Bài thơ này anh ấy viết trước lúc đi bộ đội, trong cái ngày về Nam Định thăm lại mộ mẹ em. Hôm ấy làm gì có mồ nâu (mộ mẹ em xanh cỏ từ lâu rồi); làm gì có quầng lửa tím chém ngang vầng trời? Vậy thì phải chăng linh hồn mẹ em hiện về đã báo trước cho anh Văn rằng anh sẽ hy sinh trong một không gian như thế?

Đúng là quả bom bi giết chết anh ấy khi nó nổ có một quầng lửa rạch ngang vầng trời. Trận địa của anh ấy cũng bên một cánh đồng chiêm trũng, nước ruộng mùa đông trắng bạc, có ngôi miếu loi thoi giữa cánh đồng. Và lúc em đến thì ngôi mộ anh ấy đất mới đắp còn mang màu nâu đo đỏ thật!

Lại câu này nữa, trong bài thơ “Bốt vàng”, anh Văn làm từ hồi còn học lớp 10 trường Cao Bá Quát:

Đời vô vị, kỷ nguyên không cần lửa

Đêm đã trắng thiết chi lòng sáng nữa

Anh làm con tuần lộc kéo xe đi

Đuổi theo đàn sếu đẹp như tình si

Vì chạy trốn những vầng dây núi lửa

Kẻ thì chôn những ngày thơ bỏ dở

Xé nửa đời này đắp nửa đời kia...

Vũ Kim Dung nói về người anh trai của mình một cách chân thực và say sưa. Còn tôi, thông qua những câu thơ của Vũ Đình Văn mà Dung cung cấp – những câu thơ chưa từng in ở đâu – tôi chợt nhận ra: chính những câu thơ ấy là tín hiệu cho biết Vũ Đình Văn là một nhà thơ có tầm vóc, nếu như anh còn sống. Tiếc lắm thay!

Nghĩa Hưng, tháng 6 năm 2007

(Theo TP)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác