Nhà thơ Nguyễn Xuân Thái: “Hương đời sẽ tự ngấm vào ta...”

Tiếp xúc với Nhà thơ Nguyễn Xuân Thái trong cuộc sống thường nhật, người ta có cảm giác “độ đủng đỉnh” dường như đã ngấm vào phong cách của một nhà thơ lớn tuổi từng một thời dọc ngang trên các tuyến biên thùy, “nhiều cùng” với những đồng đội giữ vai trò “khiên thép trấn biên” để lấy chất liệu cho các tác phẩm văn chương đậm đặc “chất lính sơn cước”.

Nhà thơ Nguyễn Xuân Thái.Nhà thơ Nguyễn Xuân Thái.

Nhưng đằng sau cái đủng đỉnh ấy, ít người biết có một Nguyễn Xuân Thái chưa khi nào ngừng nghỉ vai trò “thiên chức” của một nhà thơ. Ông vẫn viết, viết hối hả với sự say mê thiên bẩm, viết như muốn “tua” lại quãng đời đầy ý nghĩa của một thời từng được sống. Đầu năm, tâm sự với PV báo Biên phòng, ông không giấu được những xúc cảm của mình khi nói về nghiệp cầm bút...

Từng là người viết nhiều tác phẩm văn chương mà trong đó, hình tượng người lính biên phòng sống, chiến đấu, công tác trên các tiền đồn biên giới hiện hữu khá “đậm đặc” - được thể hiện trên mặt giấy theo lối riêng - mà như nhiều người đánh giá là “rất biên phòng”. Ông muốn truyền đạt tâm ý gì với bạn đọc là những người lính trẻ hôm nay?

Nhà thơ Nguyễn Xuân: Các cụ xưa dạy: Con chim có tổ, con người có tông. Cả cuộc đời tôi gắn bó với Bộ đội Biên phòng gần 40 năm. Từ ngày nhập ngũ cho đến khi nghỉ hưu, những năm tháng gian khổ trong Nghệ An hay những đêm dài tham gia tiễu phỉ, chống gián điệp biệt kích hoặc trên các mặt trận phía Bắc, phía Tây Nam, tôi được sự đùm bọc cưu mang rất nhiều của đồng đội và của đồng bào các dân tộc. Viết với tôi không chỉ là nghiệp mà còn là sự trả ơn, sự tri ân với những gì tôi được hưởng. Đó cũng là truyền thống “Ăn quả nhớ người trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta đó thôi. Và chính từ những điều đó đã cho tôi một giọng điệu riêng, rất riêng, chỉ biên phòng mới có.

 Viết về cán bộ chiến sĩ biên phòng, viết về đồng bào các dân tộc thì câu chữ cũng phải mang “hồn cốt” của lính biên phòng, mang “hồn cốt” của đồng bào dân tộc. Nếu viết mà không mang được hồn cốt ấy, chắc chả người lính nào đọc, chả người dân nào đọc. Ngay bây giờ, mấy cô ca sĩ hát tiếng Tây, cứ thử lên trên biên giới hát xem. Có mà người nghe bỏ về hết. (Cười).

Đối với sáng tạo văn học. Muốn viết hay, người viết không những phải có tài, có tâm mà phải có kiến thức về vấn đề đó, phải đắm mình vào nó. Nó như máu của mình ấy. Lúc đó, may chăng có tác phẩm hay. Viết giả, bạn đọc biết ngay. Đồ giả, dù có khéo che đậy đến đâu thì vẫn cứ là đồ giả.

Ở đời cũng vậy. Hãy sống thật với lòng mình, hãy sống thật với tình mình. Khôn ngoan không lại thật thà mà. Hãy sống hết lòng, đắm mình vào nó sẽ thấy hết cái hay, cái đẹp. Khi đó, hương đời sẽ tự ngấm vào ta. Đừng bao giờ sống nửa vời. Sống thế nó giả lắm và cũng nhạt lắm.

Có người nói, trước đây, với chung những người viết công tác trong lực lượng biên phòng, đề tài về người lính quân hàm xanh luôn có một vị trí xứng đáng trong các tác phẩm văn học của họ. Còn bây giờ, xu hướng đó đang đi theo chiều ngược lại. Ông nghĩ gì về điều này?

- Đúng là thời rực rỡ của các cây bút trong lực lượng Biên phòng cũng như đề tài về người lính Biên phòng trong các tác phẩm văn học gần đây thưa và vắng. Ấy là tôi nghĩ thế.

Có lẽ vì mưu sinh, vì đi thực tế biên giới khó khăn, vất vả. Ngồi ở Hà Nội, viết tản văn, tạp văn, nhàn đàm hay viết cái gì đó theo đơn đặt hàng của các báo đã có tiền triệu. Chả phải lặn lội, vất vả, trèo đèo lội suối.

Có lẽ cũng vì đội ngũ các nhà văn, nhà thơ “quân hàm xanh” cũng không còn nhiều. Suốt 51 năm thành lập lực lượng, Bộ đội Biên phòng mới có được 3 nhà văn “cầu vai quai chéo” là lính biên phòng. Trước có bác Lương Sĩ Cầm, sau đến tôi và bây giờ là nhà văn Phạm Thanh Khương. Tuy nhiên, nếu là người của lực lượng chuyển ra ngoài rồi mới trở thành Hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam còn 6 người nữa. Nhưng đó là những người khi rời lực lượng hàng chục năm sau mới được kết nạp vào hội.

Văn chương không phải là thứ thích thì chơi, không thích thì thôi. Để trở thành Hội viên Hội Nhà văn, không chỉ đòi hỏi có tài, có tâm mà phải dám hy sinh. Khi cuộc sống quay như chong chóng, mở mắt ra cái gì cũng cần tiền. Nhà văn, viết cả năm, in được cuốn sách, tiền nhuận bút chỉ đủ “bữa liên hoan”. Nếu không dám hy sinh, không chịu nghèo, chắc không thể viết được.

Cả nước ta từ ngày thành lập Hội Nhà văn đến nay, hiện có hơn 900 người là hội viên Hội Nhà văn có mấy ai sống được bằng nghiệp viết đâu. Có lẽ vì thế mà văn học viết về người lính Biên phòng hiện nay “nghèo” là thế. Muốn viết về biên phòng hay, nếu không phải là “người của biên phòng” lại không tâm huyết, có viết ra chắc khi đến tay bạn đọc cũng khó “trôi”. Nó dễ bị nhờ nhờ nước hến lắm. Có khi còn quá cả nước ốc ao bèo ấy chứ.

Nhân anh hỏi thì tôi cũng nói thật. Để có lực lượng viết, Bộ Tư lệnh cũng nên có chính sách cho phù hợp. Những người viết được đều rời đi. Bộ Tư lệnh nên có chủ trương bồi dưỡng, nuôi hạt nhân thế nào để khuyến khích họ viết. Rồi chăm lo đời sống cho họ, rồi tiêu thụ sản phẩm sách, cái mà người ta đầu tư, “thức đêm thức hôm” mất bao nhiêu thời gian để viết. Nhà văn lại là những người có cá tính. Cũng nên có cái nhìn nhân văn, “thông thoáng” về họ.

Sáng tác văn học là một công việc tự nguyện. Khi các nhà văn, nhà thơ tự giác, cảm xúc, thiết tha với đề tài thì mới hy vọng có được những sáng tác cần thiết. Theo ông, điều kiện để các nhà văn “bên ngoài” lực lượng đi thực tế địa bàn biên giới hiện nay như thế nào?

- Đã là nhà văn, nhà thơ đề tài nào cũng quan tâm. Cơ bản nhất là kiến thức về vấn đề đó đến đâu, có đủ để viết nên một tác phẩm không thôi. Với nữa, tài năng có cho anh đủ sức viết không. Ấy là tôi chưa kể đến “nồi cơm” nhà anh có để anh yên mà viết không đấy.

Tôi biết, có người khi thấy bạn bè, anh em in quyển lớn quyển bé, nguây nguẩy: Tôi mà viết còn hay hơn nhiều. Thế rồi chờ mãi, có lẽ hơn cả chục năm  vẫn chưa có cái gì gọi là viết lách. Anh ấy “viết ra miệng” hết mất rồi. Tài năng phát tiết “đằng môn”. 

Việc mời các nhà văn đi thực tế biên giới quá tốt. Được như thế, có khi “mời” quả khế được trả “cục” vàng ấy chứ. Chỉ có điều, muốn nhưng có làm được không thôi. Vì xã hội hiện nay, khi nói đến cái gì, người ta hay nghĩ đến chi phí lắm.

Có vẻ như đội ngũ các nhà văn biên phòng đang có môt sự chuyển giao thế hệ. Một lớp nhà văn sung sức trước và sau chiến tranh đang mỗi ngày nhiều tuổi lên. Cũng không tránh được hụt hẫng khi cùng một lúc, đề tài biên phòng vắng bóng các bậc đàn anh tài năng, kinh nghiêm đầy mình. Nhìn vào đội ngũ những người kế tục trẻ, ông có thấy lo ngại gì không?.

- Chuyển giao rồi chứ sao lại đang chuyển giao? Lớp nhà văn trưởng thành trong chiến tranh về hưu hết rồi còn đâu. Và như thế, đương nhiên là tuổi đã cao. Hiện tại chỉ có mỗi nhà văn Phạm Thanh Khương, đang sung sức, nhưng cũng đã ở tuổi “ngũ tuần”. Tất nhiên, gừng càng già càng cay và cũng có khi hết cay. Nghiệp viết nó thế. Không nói mạnh được.

Việc hụt hẫng một đội ngũ nhà văn trong biên phòng đã xảy ra rồi. Và chính sự hụt hẫng ấy mà nhiều năm qua, hình tượng người lính biên phòng trong các tác phẩm văn học cũng ít lắm. Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi: Liệu mười năm hoặc hơn, lực lượng ta có thêm được một nhà văn hay không? Ấy là tôi tự hỏi vậy.

Anh nói đến tài năng. Mỗi thời có tài riêng, có nét riêng. Cứ như anh nói thì lớp nhà văn trước đây không còn nữa thì hết người viết văn sao? Thời nào cũng có cái hay của nó. Tất nhiên, viết được là một chuyện. Viết hay lại là một chuyện. Thời gian và bạn đọc sẽ “thẩm định” sự sống của tác phẩm, giá trị của nhà văn. Viết văn là tài năng chứ cứ chủ nghĩa kinh nghiệm thì không có tác phẩm hay được đâu. Nó sẽ rơi vào lối mòn ngay. Lúc đó, chán chả gì bằng. Văn chương là phải luôn luôn mới. Đọc mãi cái cũ thì có khác gì “nhai rơm”. Có phải thế không anh?

Thấy thực trạng đội ngũ viết hiện nay của Biên phòng tôi cũng ái ngại, chứ nói là lo thì không. Dân tộc mình có truyền thống rồi. Mỗi khi có khó khăn đều tìm ra được con đường sáng. Văn chương cũng thế. Tiến sĩ có thể đào tạo chứ nhà văn, không thể đào tạo mà có được. Cả nước hiện nay có tới hơn chục ngàn tiến sĩ, còn nhà văn, chưa đầy ngàn người. Anh cứ nghĩ mà xem.

Thưa nhà thơ, xin được hỏi, giữa ngổn ngang bề bộn những vấn đề đau đầu, nhức óc của đời sống thị trường hôm nay, theo ông, làm cách nào để các cây viết chú ý, quan tâm đến đề tài biên phòng, một đề tài khá hấp dẫn nhưng “khó nhá”?

- Cuộc sống thời nào mà chả ngổn ngang, mưu sinh thời nào chả lam lũ, vất vả. Xã hội vốn thế mà. Mà như thế mới là xã hội. Làm gì có xã hội yên ả như mặt hồ thu. Nếu xã hội càng nhiều chuyện, càng phức tạp thì càng có cơ hội cho nhà văn có vốn sống, có đề tài hay. Nhà văn mà được sống trong xã hội đó là may chứ.

Còn việc làm gì để các nhà văn chú ý, quan tâm đến mình thì mình phải tự hỏi mình là ai đã. Anh có đáng để người ta quan tâm, chú ý hay không? Khi người ta chú ý, quan tâm, khi người ta “yêu” mình thì “có lệch đến đâu chắc cũng kê cho bằng”.

Còn đề tài à? Càng khó, càng khô khan, nếu viết được càng hay, càng quý chứ sao. Chí ít trong đó có được tấm lòng. Tấm lòng cho nhau còn gì quý bằng, nhất là trong thời buổi “đau đầu, nhức óc của đời sống thị trường” như anh vừa nói. Mới lại. Khó khăn, gian khổ làm sao bằng người lính đang phải đối mặt trên biên giới được. Cuộc sống của người lính chính là nguồn cảm hứng cho sáng tạo của các nhà văn viết về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính đấy chứ. Một nguồn cảm hứng mà theo tôi nghĩ, không bao giờ cạn.

Xin cảm ơn ông! 

 

Theo BP

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác