Nhà thơ Phạm Thiên Thư - Người mở trang sử mới cho nền văn học Phật giáo Việt Nam

Những tác phẩm Kinh Hiếu, Kinh Ngọc - Qua suối mây hồng (Kinh Kim Cương), Hội hoa đàm (Kinh Hiền Ngu), Suối nguồn vi diệu (Kinh Pháp Cú)... của nhà thơ Phạm Thiên Thư đã được nhà sách Cảo Thơm (Đà Nẵng) liên kết với NXB Văn Nghệ tái bản sau hơn 30 năm. Những tác phẩm này được nhà thơ “thi hóa” từ kinh Phật.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư - Người mở trang sử mới cho nền văn học Phật giáo Việt Nam - ảnh 1

Nhà thơ Phạm Thiên Thư từng là một tu sĩ Phật giáo từ năm 1964 – 1973 với pháp danh Thích Tuệ Không. Trong 9 năm ở chùa, ông đã tiếp cận tư tưởng nhà Phật và kinh Phật đã thấm đẫm trong các sáng tác của ông. Có thể nói, giữa đạo và đời đã hòa trộn vào vị tu sĩ - nhà thơ Phạm Thiên Thư. Chính vì đạo và đời cùng tồn tại trong một con người nên nhà thơ đã hoàn tục để tiếp tục tu tại gia cho đến hôm nay. Nhiều bè bạn gọi vui Phạm Thiên Thư là “vị tu sĩ lãng mạn”, chính nhà thơ cũng tự trào với chính mình: ...Hỏi con vạc đậu bờ kinh/ Cớ sao lận đận cái hình không hư/ Vạc rằng: thưa bác Thiên Thư/ Mặc chi cái áo Thiền Sư ỡm ờ... (Động hoa vàng).

Việc thi hóa kinh Phật của Phạm Thiên Thư diễn ra trong thời gian ông ở chùa với mong muốn kinh Phật đi vào cuộc sống người Việt một cách gần gũi nhất. Hơn thế, nhà thơ còn muốn thông qua việc làm này sẽ đưa ra một góc nhìn kinh Phật của riêng người Việt. Trong các tác phẩm vừa nêu trên, các địa danh trong kinh Phật bên Ấn Độ đã được Phạm Thiên Thư chuyển thành các địa danh ở Việt Nam. Việc chuyển địa danh hay đưa vào những hình ảnh đậm chất Việt Nam của nhà thơ đều phù hợp tư tưởng nhà Phật và một phần nào đó đã tôn vinh thêm kinh Phật trong lòng người Việt. Chẳng hạn bài Khép kinh trong tập Qua suối mây hồng (Kinh Ngọc), Phạm Thiên Thư viết: Chẳng nương bè trúc ngọc/ Vượt qua suối mây hồng/ Con chim vô lượng kiếp/ Về tha trái Nhãn không.

Những tập thơ thi hóa kinh Phật của Phạm Thiên Thư được viết trong tâm trạng thành kính xuất phát từ những giấc mơ đẹp. Ông thường viết vào buổi sáng sớm sau một giấc ngủ với những điềm lành bao quanh giấc mộng. Tối hôm trước khi bước vào giấc mơ của riêng mình, Phạm Thiên Thư đều thắp nhang thành kính nguyện cầu trước Quán Thế Âm Bồ tát. Ông kể: “Trước khi chấp bút thi hóa kinh Phật tôi đều nguyện cầu điềm lành đến với mình. Những điềm lành đó tôi gọi là giấc mộng đẹp. Nếu tối ngủ mà thấy điềm không hay thì nhất định hôm sau dù có ý tưởng cao siêu trong đầu tôi cũng không viết ra”. Chính vì lòng thành kính của mình, những tác phẩm thi hóa kinh Phật của Phạm Thiên Thư dù trải qua nhiều biến thiên cuộc đời vẫn còn tồn tại đến hôm nay. Nhưng sự tồn tại trên giấy mực của những tác phẩm này vẫn chưa đạt được ý nguyện của nhà thơ. Ông bộc bạch: “Khi tôi thi hóa kinh Phật, tôi tâm niệm và ước mong những tác phẩm này đến được với nhiều người, ngay cả những người không bao giờ đọc sách”. Ông muốn rằng ngay với những bác nông phu vừa cày bừa vừa có thể đọc thầm trong đầu những vần thơ mà cũng chính là kinh Phật được chuyển hóa.

Trong cuộc đời tu hành của mình, dù là tu ở chùa hay tại gia, những tư tưởng trong kinh Phật luôn chi phối tất cả hành động của nhà thơ Phạm Thiên Thư. Ông kết hợp sự tu tập vào các sáng tác của mình. Trong hai đêm 9 và 10-5, chương trình Phạm Duy - Con đường tình ta đi, lần đầu tiên sau nhiều năm vắng bóng, bài hát Em lễ chùa này được phổ nhạc từ bài thơ Thoáng hương qua của Phạm Thiên Thư đã tái ngộ khán giả. Bài thơ này, trên khuôn nhạc Phạm Duy cứ ngỡ là thơ tình thuần túy, song chất Phật học vẫn là tư tưởng chủ đạo. Như nội dung bài thơ, nhà thơ Phạm Thiên Thư kể ông đã lấy cảm hứng từ chuyện tình của một chú tiểu thầm yêu một nữ Phật tử đi viếng chùa. Khi Phật tử này mất, được an táng trong vườn chùa, nên đã có ca từ: Vườn chùa đây – vào nằm trong đất/ Nép bên hoa – ôi những hoa vàng/ Vườn đào tơ chập chờn cánh bướm/ Bướm khua râu – ngơ ngác bay ngang/ Mộ của em - mộ vừa mới lấp/ Có con chim -nào hót trên cây/ Lời của chim - chìm vào tiếng suối/ Suối xanh lơ - buồn khóc ai hoài...

Ở gần tuổi thất thập cổ lai hy dường như nhà thơ Phạm Thiên Thư đang “hoàn đồng”. Ông hồn nhiên trong nụ cười, trong suy nghĩ và cách nói chuyện. Mọi việc từng trải qua trong đời, Phạm Thiên Thư nhớ nhớ quên quên. Nếu có người quen nào ngồi nhắc lại, ông sẽ “à, à nhớ rồi!”. Trong cuộc sống, những cái hữu hình như thân thể lẫn những điều vô hình như trí nhớ rồi cũng thành hư không. Nhà thơ Phạm Thiên Thư vẫn tu thiền giữa chốn lao xao, trong quán cà phê Hoa Vàng của mình ở cư xá Bắc Hải, lòng ông nhẹ nhàng như câu thơ: Mây đã qua cầu.


Phạm Thiên Thư đã mở ra một trang sử mới cho nền văn học Phật giáo Việt Nam trong việc thi hóa kinh Phật và mang giáo nghĩa giải thoát vào thi ca dân tộc. Mỗi khi nghe lời thơ Đạo Ca, ngâm Đoạn trường vô thanh và đọc Kinh Ngọc, Kinh Thơ, Kinh Hiền... của thi sĩ họ Phạm, người ta như thể không còn phân biệt nổi biên giới giữa Đạo và Đời mà dường như bị hút vào một dòng sinh lực không gian vô tận dung hòa mọi tư tưởng nhân sinh. Phải chăng, đó là nét đặc thù của Phật giáo Việt Nam đã hơn một lần chói sáng qua triều đại Lý, Trần...? (Trích lời giới thiệu của Thượng tọa Thích Tâm Giác trong Hội hoa đàm – NXB Văn nghệ 2006).



Theo NLĐ

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác