Nhà văn Sơn Nam và những tác phẩm về vùng đất Nam Bộ

Nhà văn Sơn Nam được gọi là Nhà văn hóa, Nhà Nam Bộ học; hay đơn giản là “ông già Nam bộ” với tất cả lòng kính trọng và yêu quý của các đồng nghiệp và nhiều thế hệ độc giả.

Nhà văn Sơn Nam và những tác phẩm về vùng đất Nam Bộ - ảnh 1

Nhà văn Sơn Nam sống trong căn nhà nhỏ đơn sơ ở một con hẻm trên đường Đinh Tiên Hoàng, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Năm Tý này, nhà văn đã sang tuổi 82, lại vừa bị một tai nạn giao thông nên ông rất yếu. Khi chúng tôi tới thăm, ông nằm trên giường tiếp chuyện một cách khó khăn, song vẫn nụ cười móm mém rất Sơn Nam, hiện lên nét hóm hỉnh và tinh nghịch khi gợi lại những câu chuyện về con người về Nam Bộ và đất rừng U Minh, những nơi ông đã trải qua nhiều năm trước giải phóng và để lại bao nhiêu trang viết như xương thịt của từng tác phẩm ông yêu quý.

Ông tâm sự: “Là một người thật sự muốn đến và luôn đi lữ hành mọi vùng đất Nam Bộ, đi từ ngọn nguồn của đường nét văn hóa Nam Bộ bao la để hiểu, để nghĩ suy cho đúng; từ khi cầm bút tới nay ngoài 80, tôi vẫn không từ bỏ ý định đó, dù hiện giờ sức khỏe không cho phép”.

Nhà văn Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang). Ông  học tiểu học ở Rạch Giá, học trung học ở Cần Thơ. Lúc Cách mạng Tháng 8/1945 nổ ra, ông đã tốt nghiệp bậc Thành Chung. Suốt trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ông lăn lộn khắp rừng U Minh và vùng tứ giác Long Xuyên; vừa hoạt động Cách mạng, vừa đi và viết. Đây là những năm tháng mà ông cảm nhận sâu sắc những phẩm chất của người dân Nam Bộ như: hồn nhiên, trung thực, chất phác, hào sảng, tình nghĩa, dễ dung hòa.

Nhà văn nhớ lại, năm 1952, tập truyện vừa đầu tiên “Bên rừng Cù lao Dung” và “Ký sự Tây đầu đỏ” đã nhận được giải Nhất và giải Nhì của giải thưởng Văn nghệ Cửu Long do Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ tổ chức. Qua những tác phẩm đầu tay này, Sơn Nam khắc họa hình ảnh những người nông dân tham gia kháng chiến bằng lối hành văn giản dị, gần gũi với nhiều nét của phương ngữ Nam Bộ. Phong cách Sơn Nam là phong cách đặc sắc Rừng U Minh, nhà văn đã gìn giữ và hoàn thiện trong hơn 60 năm, với hàng loạt sáng tác mà bạn đọc cả nước nhớ, yêu.

Sau Hiệp định Geneva năm 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền, Sơn Nam ở lại miền Nam, ông bị giam vào cái gọi là Trung tâm Cải huấn khi ngụy quyền Ngô Đình Diệm áp dụng chính sách trả thù những người kháng chiến cũ. Khi được trả tự do, ông tham gia viết bài cho các tờ báo có xu hướng yêu nước, mà tại miền Nam lúc đó hay gọi là “thân Cộng” như “Nhân Loại”, “Lẽ Sống”, “Tiếng Chuông”... Đây là thời kỳ ông thực sự tìm và chọn chí hướng sáng tác của mình với những đề tài dã sử để né tránh sự đàn áp của chính quyền mà vẫn gửi gắm được tình cảm yêu nước và ngợi ca chí khí bất khuất, oai hùng của dân tộc, của con người Việt. Các truyện của ông lúc này nghiêng về khảo cứu văn hóa như: “Chuyện xưa tích cũ”, “Tìm hiểu đất Hậu Giang”, “Nguyễn Trung Trực - người anh hùng dân chài”… 

Tới năm 1960, ông lại bị bắt giam vào nhà tù Phú Lợi 18 tháng. Và đó cũng là thời gian manh nha cho sự ra đời của tập truyện ngắn nổi tiếng “Hương rừng Cà Mau” vào năm 1962, sau khi ông ra tù. Tập truyện ngắn này được đánh giá rất cao và được xem như là định hình phong cách khảo cứu về văn hóa Nam Bộ - rất Sơn Nam, mà qua đó nhiều người đặt tên ông là “ông già Nam Bộ”.

Sơn Nam viết: “Lịch sử Nam Bộ là lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kỳ và tự lực. Ý thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi. Đời ông nội rồi đời cha tôi lo khẩn hoang mở đất, nên những trang viết của tôi dành cho việc khẩn hoang mở đất và là sở trường của tôi”. Nhiều sáng tác của Sơn Nam để lại dấu ấn giá trị về mặt lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội của vùng đất Nam Bộ. Những tác phẩm như “Lịch sử Khẩn hoang miền Nam”, “Văn minh Miệt vườn Gia Định xưa”, “Bến Nghé xưa”, “Miền Nam đầu thế kỷ XX”, “Thiên Địa Hội” và “Cuộc Minh Tân”, “Phong trào Duy Tân Bắc-Trung-Nam”... đã khiến ông được gọi vui và đầy trân trọng là “Cuốn từ điển sống về Nam Bộ”.

Ngày giải phóng miền Nam, Sơn Nam lúc này đã là hội viên Hội Nhà văn TP.HCM và Hội Nhà văn Việt Nam; ông vẫn tiếp tục đi và viết nhiều tiểu thuyết và truyện vừa như: “Chuyện tình một người thường dân”, “Ngôi nhà mặt tiền”, “Âm dương cách trở”... cùng nhiều thể loại khảo cứu, văn hóa dân dã khác về đất và người Nam Bộ.

Sơn Nam cho chúng tôi xem bản thảo bộ sách vừa mới hoàn thành: 4 tập hồi ký: “Từ U Minh đến Cần Thơ”, “Ở chiến khu 9”, “20 năm giữa lòng đô thị” và “Bình An”. Đây không chỉ là chuyện kể về cuộc đời một con người, mà còn phản ánh một giai đoạn lịch sử của nhiều vùng đất Nam Bộ. Sắp tới NXB Trẻ, nơi đã ký độc quyền các tác phẩm của ông sẽ cho ra mắt độc giả bộ sách này.

Mấy năm gần đây, một số tác phẩm của Sơn Nam đã được các nhà làm phim trong nước và nước ngoài xây dựng thành các kịch bản phim như: “Cây Huê Xà” (Hãng phim TFS, Đài Tuyền hình Tp Hồ Chí Minh, năm 2002), “Mùa Len Trâu” (hợp tác của Hãng phim Giải phóng, 3B Production – Pháp và Novak - Bỉ, năm 2003). Bộ phim “Mùa len trâu” đã giành được giải cao trong các Liên hoan phim tại Brazil, Thụy Sĩ, Pháp, Bắc Mỹ và Liên hoan phim Châu Á – Thái Bình Dương.

Cuộc đời Sơn Nam là sự kết nối kết những am hiểu sâu rộng trong đời với những chuyến đi du khảo thực tế, những nghiên cứu điền dã để thành triết lý của văn hóa con người, vùng đất Nam Bộ. Đi thực tế theo ông là để cảm nhận cảnh vật, con người từ hơi thở cuộc sống tới ngọn nguồn tính cách nhân vật; để người viết gửi gắm cảm xúc của mình vào những trang viết, những công trình đầy ắp cá tính Nam Bộ - văn hóa Nam Bộ  bao la ./.

Theo VOV

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác