Nhà văn Y Điêng: Bóng cây kơ nia đại thụ giữa núi rừng Tây Nguyên

Nằm ở phía Đông chân núi Mẹ Bồng Con soi bóng xuống dòng sông Hinh xanh biếc, buôn Thung trầm lặng, hiền hòa đã sinh ra một nhà văn bình dị mà tài hoa giữa mênh mông đại ngàn. Ông là nhà văn Y Điêng được thế hệ các nhà văn trân trọng ví như bóng cây kơ nia đại thụ, như già làng văn học của Tây Nguyên.

Nhà văn Y Điêng: Bóng cây kơ nia đại thụ giữa núi rừng Tây Nguyên - ảnh 1

Nhà văn Y Điêng là người Êđê đầu tiên vượt qua khỏi văn học dân gian truyền miệng để bước tới văn học viết; người đầu tiên viết truyện dài bằng song ngữ Êđê - Việt và cách đây hai năm, ông cũng là người Êđê đầu tiên được tặng Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật. Bây giờ tuổi đã ngoài 80, nhưng ông vẫn cần mẫn ngồi trước trang viết.

Không hẹn trước, nhưng nhà văn Y Điêng vẫn vui vẻ đón tiếp chúng tôi bằng nụ cười hiền hậu trong căn nhà cấp bốn bên con đường nối liền Tuy Hòa (Phú Yên) với Đắk Lắk. Trông ông khỏe mạnh hơn nhiều so với tuổi ngoài 80, gương mặt quắc thước như những già làng mà tôi đã gặp trong những chuyến đi thực tế ở miền núi.

Nhà văn Y Điêng cất tiếng khóc chào đời vào ngày 15/2/1928 ở buôn Thung, xã Đức Bình Đông, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Cách mạng Tháng Tám thành công khi ông đang ở độ tuổi "bẻ gãy sừng trâu", nhưng đã đảm đương công việc thư ký xã bộ Việt Minh ở Ea Bia. Hai năm sau, ông chuyển sang làm cán bộ tuyên truyền và dạy học ở Trường Tiểu học kháng chiến.

Gần bảy năm bám trụ vùng đất phía Đông Tây Nguyên, trước khi khoác ba lô theo những người con miền Nam tập kết ra Bắc, ông từng đảm nhiệm công việc giám thị trại giam tề ngụy thuộc Ty Công an Đắk Lắk.

Đặt chân lên đất Bắc, chàng thanh niên Y Điêng được đi học chính trị - nghiệp vụ ở Trường Đào tạo của Bộ Công an tại Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang rồi về làm Cảnh sát tiếp quản Hà Nội sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi.

Vài tháng sau, ông nhận quyết định sang Trường Dân tộc Trung ương và được đi học bổ túc văn hóa suốt ba năm, đến cuối thu năm 1958, mới về công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Duyên nợ với nghiệp văn đến với ông khi được cử đi học lớp viết văn khóa 1 ở Quảng Bá cùng thời với các nhà văn Lương Sĩ Cầm, Lê Tri Kỷ, Nguyễn Quang Sáng…

Năm 1963, Y Điêng về làm phóng viên Đài Phát thanh khu tự trị Tây Bắc, đồng thời nghiên cứu văn hóa dân gian, nhưng chỉ một năm sau đó, Y Điêng trở lại chiến trường Nam Bộ và được phân công làm thư ký riêng của cụ Y Bi Aleo - Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Đất nước thống nhất, ông trở về Tây Nguyên, đảm trách chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đắk Lắk suốt 6 năm mới chuyển về xuôi làm Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh Phú Khánh. Dù có thừa tiêu chuẩn để được ưu tiên nhận một căn hộ trong khu tập thể ở thành phố biển Nha Trang, nhưng hình ảnh núi rừng huyền ảo trong buổi sớm mờ sương, tiếng suối róc rách đều đều trong mùa khô, ầm ào giận dữ trong mùa lũ đã thôi thúc ông về lại buôn làng miền núi quê nhà.

Hồi còn ở Đài Tiếng nói Việt Nam, ông đã trình làng một số bút ký qua sóng phát thanh, nhưng khi đề cập đến sự nghiệp văn học của ông, nhà văn Y Điêng bồi hồi nhớ lại: "Có thể nói "Em chờ bộ đội Awa Hồ" là truyện ngắn đầu tay của tôi được trao giải ba cuộc thi truyện ngắn do Báo Thống nhất tổ chức năm 1962. Sau đó, tôi cho ra đời tiếp tập truyện ngắn "Ông già Kơ Rao" năm 1964, truyện vừa "Như cánh chim Kway" năm 1974".

Khi vào chiến trường miền Nam, công việc tất bật, nhưng Y Điêng vẫn mải mê lao động nghệ thuật bền bỉ bên những trang viết. Từ miền Nam, ông gửi bản thảo tập truyện dài "Hờ Giang" theo đường giao liên vượt Trường Sơn ra tới Nhà xuất bản Văn nghệ giải phóng từ năm 1972, nhưng lòng vòng thế nào 6 năm sau tác phẩm mới được in.

Với cấu trúc thứ tự theo mạch thời gian, chất văn mộc mạc, cốt cách diễn đạt giản dị như những pho tượng gỗ trong những ngôi nhà mồ của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, tập truyện dài "Hờ Giang" phản ánh gương chiến đấu kiên cường của đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Ea Ama ở TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk - nơi nhà văn đã từng sống và chiến đấu.

Và đó cũng là tập truyện đầu tiên nhà văn Y Điêng viết bằng hai thứ tiếng Việt và Êđê được Ủy ban Dân tộc Trung ương và Hội Nhà văn Việt Nam tặng giải thưởng. Ông bộc bạch: "Nhà văn người đồng bào dân tộc thiểu số ít lắm, trong khi đó vốn văn hóa buôn làng sẽ dần mất đi nếu không kịp viết lại, nhiều chuyện còn trong bụng của người già phải chép lại cho bà con bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Êđê. Mình viết về quê hương mình, đồng bào mình với dáng dấp và hơi thở của núi rừng thôi mà".

Ý nghĩ đó thúc giục ông liên tiếp cho ra đời tập truyện dài "Drai Hling đi về phía sáng" năm 1985, rồi tiểu thuyết hai tập "Chuyện trên bờ sông Hinh" - Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành năm 2000, "Lửa trong tay chúng tôi" năm 2005 và cuối năm ngoái ông đã gửi đến một nhà xuất bản ở Hà Nội tập bản thảo truyện dài "Trung đội người Ba Na".

Bằng lối viết kể chuyện một cách dung dị, Y Điêng diễn tả mối tình giữa chàng trai Y Thoa với cô gái Hờ Linh trong tiểu thuyết "Chuyện trên bờ sông Hinh" thật hồn nhiên, trong trẻo như mạch suối rừng. Những lần họ lên nương rẫy trỉa lúa, trỉa ngô, cùng múa hát trong đêm trăng ở miền sơn cước, uống rượu cần trong lễ hội đâm trâu… tưởng chừng rất bình dị nhưng lại có sức hấp dẫn bạn đọc đến trang cuối.

Vẫn phong cách đó, trong "Trung đội người Ba Na", ông đã tái hiện sinh động những cuộc chiến đấu thầm lặng của những du kích Ba Na ở Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông trong những năm 1965-1966 mà ông đã có dịp bám theo họ trong kháng chiến.

Còn nhớ trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, Y Điêng bày tỏ: "Với tôi, dòng sông Hinh quê hương nơi tôi sinh ra, gắn bó suốt tuổi thơ cùng bạn bè đã trở thành máu thịt, tôi nhớ hoài khi phải xa nó… Quê hương vùng sông Hinh của tôi lại là cái nền của các trường ca sử thi, không một lúc nào không có những nghệ nhân hát trường ca, hát giao duyên, hát về ký ức nghèo đói của mình. Trường ca thấm đẫm trong tôi. Những buổi đầu tham gia cách mạng, văn hóa quá thấp, tiếng phổ thông chưa thạo, nên tôi không dám nghĩ đến viết văn. Chỉ đến khi tôi về công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, công việc đòi hỏi tôi phải đọc, phải dịch, phải viết. Khi dịch và đọc báo chí, tôi thấy quê hương tôi lớn đẹp hơn nhiều so với suy nghĩ của tôi trước đây. Tôi mạnh dạn cầm bút thử sức mình bằng tùy bút viết về con sông Hinh quê hương. Chuyện của dân tộc mình phải chính mình viết. Mình không viết, không nói là mắc nợ với quê hương, với người thân".

Dù đã trải nghiệm qua hơn chục tác phẩm văn học, nhưng Y Điêng vẫn giãi bày: "Nghề viết khó quá! Tôi tự ví mình như người làm rẫy. Cứ làm dần, mỗi năm vỡ thêm một ít, rẫy thì không có bờ thẳng tắp như đồng ruộng dưới xuôi, nên phải viết lại nhiều lần, mỗi lần sửa như là viết lại cái mới".

Có lẽ vì trường ca đã thấm đẫm trong máu thịt của ông, nên sau khi nhận quyết định nghỉ hưu cách đây 13 năm, ông khăn gói từ giã chốn phồn hoa đô thị để trở về với buôn làng quê hương. Ngoài thời gian viết văn, ông luôn dành quỹ thời gian để dịch từ tiếng Êđê sang tiếng Việt phổ thông các trường ca Tây Nguyên như Xing Nhã, Đăm Di, Khinh Dú, Y Ban, Y Brao, H'Bia Mlin và truyện cổ tích dân tộc Êđê.

Lúc mới về tới thị trấn Hai Riêng, mỗi buổi sáng chiều ngồi nghe phát sóng chương trình của Đài truyền thanh huyện Sông Hinh, quá khứ những năm tháng công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam trỗi dậy trong ông. Y Điêng đến gặp những cán bộ có chức trách đề nghị xây dựng chuyên mục phát thanh tiếng Êđê.

Ông bảo: "Đồng bào ở Sông Hinh hầu hết đều là dân tộc Êđê, mình cũng là người Êđê biết cái chữ thì phải nói, phải dịch tiếng Việt sang tiếng Êđê cho bà con mình nắm bắt kịp thời tin tức thời sự trong nước, trong tỉnh; thấu hiểu chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước…".

Cũng từ đó nhà văn Y Điêng trở thành người làm công tác biên dịch của… đài huyện. Cất công ngồi dịch mất nửa ngày cho một chương trình phát thanh 15 phút, nhưng Sông Hinh vốn là huyện nghèo, nên mấy năm đầu ông không có lấy một đồng nhuận bút. Y Điêng kể: "Hồi dịch bản thảo sử thi Êđê Madrong Dăm tới 1.118 trang, trừ thời gian làm chương trình cho đài huyện, cứ mỗi ngày tôi túc tắc dịch hơn chục trang".

Nghe ông nói, tôi chợt hình dung ra một già làng mái tóc pha sương miệt mài trước trang viết một cách cần mẫn và thong thả như con tằm nhả tơ. Thật vậy, khi tôi đến, nhà văn Y Điêng đang viết lại những câu chuyện huyền thoại về vùng đất nổi tiếng với câu nói cửa miệng của người dân quê ông "Cọp núi lá, cá Sông Hinh". Ông bảo: "Đây là tập truyện dành cho thiếu nhi, vì tôi muốn con cháu mình hiểu một cách đầy đủ hơn về vùng đất này".

Không chỉ biết mỗi tiếng mẹ đẻ, những năm làm công tác sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân gian vùng Tây Bắc, Y Điêng còn học hỏi một số tiếng dân tộc anh em khác. Có lần nhà văn Triệu Lam Châu - giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa tò mò hỏi Y Điêng: "Anh có biết tiếng Tày không?", ông trả lời: "Biết chứ, nhưng ít thôi". Dứt lời, ông chứng minh bằng một câu hỏi: "Noong điếp chai bâu ?" (Em có yêu anh không?). Khi Triệu Lam Châu đáp: "Điếp ớ. Điếp tằng slư cúa chài them lai lố" (Yêu chứ. Yêu cả tác phẩm của anh nữa đó), Y Điêng hỏi tiếp: "Dử bấu à?" (Đúng thế không). Rồi ông cười hả hê vui sướng khi nghe Triệu Lam Châu khẳng định: "Mủng khảu tha noong mà hẻ chắc a" (Nhìn vào mắt nhau thì biết ngay mà).

Nhiều nhà văn tỏ ra bất ngờ khi nghe Y Điêng nói tiếng Tày bằng âm giọng khá chuẩn. Bất ngờ hơn nữa là ngoài việc cho ra đời hơn 10 tác phẩm văn xuôi, cách đây ba năm, Y Điêng đã trình làng tập "Y Điêng thơ" gồm 40 bài thơ mà ông đã âm thầm sáng tác từ hơn chục năm nay. Những câu thơ tự nhiên như trời đất, mộc mạc mà giàu chất tư duy núi rừng Tây Nguyên.

Rời phố núi Hai Riêng trong chiều vàng tháng tư, nhìn ánh mắt trầm tư của nhà văn Y Điêng ẩn chứa nhiều khát vọng mới trên dặm đường văn học, tôi chợt nhớ nhà văn Mã A Lềnh, dân tộc Mông từng ví von rằng ở vùng sông Đông bên nước Nga xa xôi có một Sôlôkhốp, còn ở Việt Nam, nơi vùng sông Hinh có một Y Điêng.

Quả thật, ở tuổi ngoài 80 nhưng vóc dáng ông vẫn còn tráng kiện, sức viết vẫn bền bỉ dẻo dai. Vốn sống hàng chục năm về trước đang được ông đánh thức thành mạch sống chảy mãi trên những trang viết đầy ắp hình ảnh quê hương và buôn làng đồng bào rất đỗi thân thương, trong đó Y Điêng là bóng cây kơ nia xanh mãi, là già làng văn học Tây Nguyên.

Theo CAND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác