Những tìm tòi mới của Phan Cung Việt trong thể loại truyện ngắn

Đầu Xuân Ðinh Hợi này, Nhà xuất bản Thanh Niên vừa cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn Con lợn chó trại vải, gồm 36 truyện ngắn chọn lọc, viết trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2006 của nhà văn Phan Cung Việt.

Hầu hết các truyện ngắn đều có kết cấu chặt chẽ, ngắn, gọn, đi thẳng vào một số khía cạnh nóng hổi của hiện thực đời sống xã hội. Người đọc dễ nhận thấy trong tập truyện ngắn này, tác giả có nhiều cố gắng trong việc đổi mới bút pháp thể hiện từ khâu lựa chọn đề tài phản ánh, khắc họa tính cách nhân vật đến kết cấu, ngôn ngữ, hành văn. 

Các truyện ngắn hầu như không có cốt truyện, lớp lang nhân vật như cách viết quen thuộc. Nhưng đọc kỹ thì người đọc vẫn cảm thấy đằng sau các con chữ, những câu văn có hồn, có tâm ấy là những mảnh đời, thân phận; những tính cách khác nhau với bao vinh quang và cay đắng; niềm vui sướng, viên mãn và đau khổ, mất mát; cái cao thượng và cái thấp hèn... rất đời thường.

Ðiều đáng quý là thái độ trân trọng của nhà văn đối với những nét đẹp mà anh bắt gặp ở đâu đó trong cuộc sống hằng ngày. Dẫu trong bức tranh hiện thực còn có những mảng tối  cần phải xóa bỏ, tẩy rửa, vì nó làm bận tâm bao con người chân chính, nhưng tác giả vẫn có cái nhìn tươi rói, tin vào sự đi lên của tập thể, cộng đồng.

Trong Thương nhớ heo may, nhà văn miêu tả khá sâu về nhịp sống đô thị hóa đang làm biến đổi rất nhiều bộ mặt của cái làng Khương và cả cách nghĩ, nếp sống của bao người dân ở đây, chỉ còn sót ra một góc hồ, góc phố cho làng chim và những người chơi chim, bẫy chim trời. Mặc dù vậy, nhưng theo tác giả thì chính ở cái làng Khương đó:... "mỗi ngày lại thêm bao chuyện để ta thương nhớ. Sau heo may là mùa xuân...". Anh ca ngợi hai giáo sư, bác sĩ là hai bố con đầy tài năng, hết lòng vì người bệnh. Họ ngã xuống vì căn bệnh quái ác như những anh hùng, được người đời tôn vinh. Ngược lại với hai vị thầy thuốc khả kính này là giáo sư Hoát "làm ăn thế nào mà lâm vào cảnh lộn tùng phèo tuyển sinh, chiêu sinh. Rồi phe cánh đấu đá, giành giật, tranh công đổ tội...". Kết cục là ông phải vào tù (Chữ Nhân trên mặt đất).

Trong truyện Ðạo người, tác giả  khắc họa nhân cách cao thượng của giáo sư Lịch một cách sinh động. Giáo sư là người đầy cá tính, không thích nói theo kiểu "phong trào, đánh hôi", luôn nhạy bén, đổi mới tư duy cho phù hợp  thời cuộc và có cái nhìn bao dung, độ lượng, không hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa. Ông rất trọng học thuật, dám thẳng thắn vạch ra những điểm rắc rối, khó hiểu, như đánh đố thí sinh trong một đề thi tốt nghiệp trung học chuyên ban (khối C).

Một số truyện  ngắn trong tập truyện có văn phong trau chuốt, nhuần nhuyễn, mang đậm chất thơ và giàu ý nghĩa nhân văn. Yếu tố huyền ảo, tưởng tượng được nhà văn sử dụng một cách thành thục, có tác dụng làm tăng sự liên tưởng, cuốn hút sự chú ý của người đọc, chứ không sa vào rắc rối, lập dị, khó hiểu, như một số cây viết truyện ngắn, tiểu thuyết trong thời gian gần đây.

Chiếc điện thoại di động của nhà chùa là một trong những truyện ngắn đặc sắc của tác giả. Nhà sư nữ Thích Hải Thương trẻ trung, xinh đẹp và cao thượng quá, bởi thầy luôn nghĩ đến các kiếp, sự hóa thân của kiếp người và cho rằng ở đời "Thảy cũng do chữ "thương" mà ra". Thầy nhận làm lễ giải hồn cho những bi thương quanh vùng. Trong tận cùng, sâu thẳm của tâm hồn nhà sư ấy vẫn in đậm hình ảnh người yêu cùng lớp cuối cấp 3, nhập ngũ được 5 tháng thì hy sinh ở chiến trường. Trong túi áo của anh khi ngã xuống còn có mẩu giấy "Thương em".

Còn trong truyện Tòa thánh, tác giả nhấn mạnh những nét thánh thiện, tuyệt vời của những cô gái miền Ðông Nam Bộ. "Họ sống được cả trong bụi đỏ và cả trong bão biển. Ðặc điểm của họ: cuối cùng bao giờ cũng có mái nhà ấm, có chồng con và đôi mắt cất giữ một tình yêu thầm kín".

Nhà văn đã dành những trang văn tâm huyết để viết về những trại vải thiều gốc ở vùng Thanh Hà (Hải Dương) đẹp như tranh vẽ, nhất là vào những đêm trăng vàng sáng vằng vặc. Ðẹp hơn nữa là những con người ở mảnh đất này cần cù, liêm khiết, trọng đạo lý, giữ được nếp xưa ấm áp tình làng nghĩa xóm; nhiều cụ từng là du kích đường số 5 gan dạ đánh giặc (Vườn trăng, Con lợn chó trại vải).

Mảng đề tài về những người đã tham gia cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc, nay trở về đời thường cũng được tác giả thể hiện đậm nét. Anh không sa vào chủ nghĩa tự nhiên, bi lụy quá mức, khi nhắc đến những mất mát, đau thương trong chiến tranh và những mảnh đời cụ thể hiện nay của những anh chị bộ đội, thanh niên xung phong năm xưa đang lao động, học tập và xây dựng cuộc sống mới.

Tàu qua xứ Thanh, thơ để lại là câu chuyện cảm động, day dứt của ba đồng đội đã từng sống và chiến đấu ở Thành Cổ Quảng Trị ngày nào. Mỗi người một hoàn cảnh, họ đều tự vươn lên để hòa nhập và có đóng góp hữu ích cho xã hội.

Với Mùa sứa và Kính dâng cô Tổ muôn văn, bằng những chi tiết hiện thực rất đắt, tác giả dẫn dắt bạn đọc làm quen với các nhân vật đã có nhiều cống hiến trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Ðó là anh cựu chiến binh Minh từng lăn lộn sống chết trên nhiều chiến trường, phục viên trở về miền quê biển thân yêu mà không có một chút công thần, yên tâm với nghề nặn tượng thủ công, góp phần làm giàu cho quê hương. Ðó là cô Luyến đã có hơn 10 năm ở Trường Sơn, làm y sĩ cho thanh niên xung phong, bị bom vùi chục bận, nay vẫn lặng lẽ làm nghề đội cát thuê để làm các nền nhà ở cái "phố biển" trong mùa đánh bắt sứa. Ðó còn là người đàn bà đang lo việc hương khói cho từ đường dòng họ đã bất chấp nguy hiểm của mưa bom bão đạn ở chiến trường, lao vào cấp cứu, mổ xẻ cho thương binh và là cây hát, cây ngâm thơ nổi tiếng của đơn vị.

Những truyện cảm động về các số phận thiệt thòi này bắt chúng ta phải suy nghĩ về trách nhiệm đối với những người đã có một thời sống và chiến đấu oanh liệt như vậy.

Ngòi bút của nhà văn tỏ ra nhạy bén, sắc nhọn khi anh phân tích, mổ xẻ những mặt trái của cơ chế thị trường, những thói hư tật xấu của một số người trong xã hội. Anh dựng nên nhân vật gã Thìa, một con người luôn xoay xở, ích kỷ, lươn lẹo trong những năm công tác và cả khi về hưu, đúng như cái tên của gã. Với gã thì "Bát canh nhiều tiền là bát canh ngon, cần có cái để múc. Cái gì cũng phải múc...".

Trong truyện Ngôi nhà bên hồ Thiền Quang, anh nhắc đến số phận của những ngôi nhà ven hồ như số phận con người đô thị trong cơ chế thị trường hiện nay. Một thời bao cấp đã trôi qua, đến thời đua nhau làm dịch vụ để sống, rồi lao vào buôn bán, chỉ trỏ, với bao nhiêu sự đổi thay trong tính cách của những chủ nhân và những người trong các ngôi nhà ấy: buồn vui, sướng khổ biết nhường nào. Chỉ trích, lên án những cái xấu xa, đồi bại, trái với luân thường đạo lý và thuần phong mỹ tục của dân tộc một cách nhẹ nhàng, với mục đích góp phần xây dựng một cuộc sống mới tốt đẹp, anh tỏ ra đồng cảm với bao cảnh huống, số phận, nỗi niềm của nhiều con người rất bình thường, làm những công việc thầm lặng, đem lại lợi ích cho xã hội... 

Nhìn chung, truyện ngắn Phan Cung Việt giàu chi tiết rung động và đậm đà ý nghĩa triết lý, giáo dục, nhưng không dễ đọc. Nó đòi hỏi độc giả phải đọc kỹ, ngẫm nghĩ sâu, tự tìm ra kết luận, hiểu được thâm ý của người viết và những điều mà nhà văn muốn gửi gắm tới công chúng. Ưu điểm cần được phát huy là anh thường xuyên suy nghĩ để đổi mới về nội dung, hình thức thể hiện trong truyện ngắn. Song, không phải anh không gặp những vấp váp, những điều chưa thành công, không như ý mình mong muốn. Có truyện mới là những thử nghiệm ban đầu về cách viết mới lạ, chưa gây được sự chú ý của bạn đọc. Một vài chi tiết trong một số truyện ngắn còn thiếu sự lô-gích, chưa hợp lý, chưa phù hợp sự phát triển biện chứng của sự việc, của tính cách nhân vật...

Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, Phan Cung Việt luôn trăn trở tìm tòi,  để tạo ra sự mới mẻ trong hai thể loại: thơ ca và truyện ngắn, vốn là sở trường của anh. Có những tìm tòi cần phải được kiểm nghiệm qua thời gian và sự đánh giá công bằng của bạn đọc. Tôi rất tin và mừng cho anh trong quá trình sáng tạo văn chương.

Có lần anh tâm sự: "Tôi yêu thích truyện ngắn,  bởi vì mỗi khi cầm bút viết, bản thân nhà văn hóa thân vào những bối cảnh, vùng đất và số phận khác nhau. Như mình được sống với những kiếp khác vậy".

Với cái nhìn bao dung, trân trọng cuộc đời và sự nghiệp đổi mới đất nước, cộng với sự lao động văn học nghiêm túc, đắm đuối nghề nghiệp, chắc là anh sẽ gặt hái được những bông lúa vàng chắc hạt, nặng tay hơn nữa trên cánh đồng thơ văn mà anh đã từng thâm canh, thức khuya dậy sớm, cày sâu cuốc bẫm.

(Theo ND)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác