Tản mạn cùng Mai Thìn - nhà thơ đồng nội

Mười lăm năm qua, kể từ ngày tập thơ đầu tay của Mai Thìn ra đời (Cổ tích tình yêu - Hội VH-NT Đà Nẵng, 1991) chàng sinh viên thời ấy giờ vẫn chung thủy với miền quê đã sinh ra những nhà thơ An Nhơn - Bình Định, nơi có Tháp Cánh Tiên, có Thành Hoàng Đế, sông Quai Vạc, chợ Gò Găng, Bến Gỗ, Đập Đá, Trường Thi... đã gây nên bao cảm xúc cho nhiều thế hệ thi ca của đất nước.

Tản mạn cùng Mai Thìn - nhà thơ đồng nội - ảnh 1

Tất cả đã đi vào thơ Mai Thìn và gợi cho người đọc một chút bâng khuâng, nhớ thương, lưu luyến, đánh thức tuổi thơ ta những mùa trăng trên nội, nỗi nhớ về mẹ ta, chị ta, em ta và tình yêu người thôn nữ bên nhà với thoáng buồn đến trĩu mi; và ta cảm thấy tâm hồn mình giàu có, khát khao tình yêu và cái đẹp.

Thơ Mai Thìn như những giọt mưa mùa hạ, như cơn gió thoảng qua hè, dịu vợi, ngọt ngào với những nỗi nhớ bâng quơ. Tất cả đều lờ mờ, loáng thoáng rồi đột nhiên hiện hữu rõ nét trước mắt ta với dáng vẻ khỏe khoắn, ngây thơ và thơm lừng mùi trinh nữ.

Đó là cảm tưởng của tôi sau khi đọc mấy tập thơ của Mai Thìn: Cổ tích tình yêu (1991), Hai mảnh yêu thương (in chung với Quang Vĩnh Khương, 1992), Đồng quê (1999), Khúc sơn ca (2005).

Giữa lúc nạn lạm phát thơ xô bồ và rối rắm của ngôn từ chưa có dấu hiệu dừng lại, những tập thơ của Mai Thìn làm cho ta tin rằng những người làm thơ đích thực vẫn còn và đang là chủ đạo của dòng chảy đương đại. Có lẽ cũng vì thế mà Mai Thìn muốn lẩn tránh hiện thực và một chút gì ảo tưởng chăng? “Nếu thực tình có một khiếp sau, tôi không làm thơ, không viết báo, không họp hành mà xin trở về làm một nông phu chăm bón ruộng vườn đuề huề trăng gió ...“ , để “ ...bầu bạn cùng Sơn Ca líu ríu “  đậu “ trên vành nón nghiêng che, trên lung liêng giọt nắng trưa hè và trên cả luống cày mới ải ” (Khúc 1, K S C ). 

Đọc hết khổ thơ, điều nghi ngờ ở trên dường như tan biến mà ta tin rằng đó là sự thật của tâm hồn anh. Hầu như không một tập thơ nào của anh mà không có bóng dáng của miền quê thân yêu với những ngôn từ thật dân dã gợi nhớ làng quê Việt. Đặc biệt, là cái làng quê ở dưới chân thành Hoàng Đế bàng bạc ánh trăng. Trăng trong vườn chuối, vườn cây, trong đêm hè trên nội và mùa màng nhuốm đầy cổ tích tình yêu, có Đồ Bàn với công chúa Huyền Trân, có dòng sông Quai Vạc chảy qua bến Gỗ, sau chùa Thập Tháp, có Văn Miếu trải dài hơn 200 năm mở cõi phương Nam: “ ... Bến Gỗ ngày xưa nối cả bao làng bờ thành thì cao, bờ soi thì thấp tháp canh thành xanh ngút  nương dâu... “ ( Bến Gỗ, KSC)

Và: “ ... dáng chàng kỵ mã nhúng đầy trăng...        

 tiếng trống giục hát mừng khoa bảng,           

rộn ràng trăng Văn Miếu linh đình...” 

(Trăng trên thành Hoàng Đế, KSC) 

Thơ Mai Thìn ăm ắp hình ảnh của một miền quê mà người nông dân có thể ngày lùa trâu ra đồng, lùa bò lên soi, đêm mặc áo vương hầu khanh tướng hay khoác vai tráng sĩ dáng Kinh Kha, hay đấng quân vương còn vương nợ giai nhân. Nơi ấy có  dòng sông Côn màu mỡ với “bồng bềnh sương sớm nón Gò Găng em đi/ vàng cây rạ đỏ phên tre...”, với những: "Ngôi nhà lá mái, Trên cánh đồng vàng..." đẹp như một Bức tranh hoàng hôn.

Và trăng trong thơ Mai Thìn thì có lúc: “chuyển rung cả một triều đại“, có lúc “ ...ưu tư, rúng động khắp chân thành vì một câu hát khách“ và có cả “nàng Ngọc Hân“ Ai tư vãn “khóc chồng giọt giọt châu trăng...“ 

(Trăng trên  thành Hoàng Đế, K S C ).

Rồi khi:

Trăng đã lên song cửa làng mình... Hơi ấm của đêm, hương thơm của trăng cắn vào da thịt râm ran nồng nàn bật thức những mầm cây... trăng mơn mởn, trăng tinh khôi, trăng đi rồi, biết khi nào trăng lại...” (Trăng, KSC) 

Và đêm Nguyên tiêu thì:

... tôi gánh một gánh trăng trĩu trong đôi vò rượu uống cùng người dốc cạn cả đam mê...”. 

(Trăng, tôi và Hàn mặc Tử, KSC)

Tâm hồn của thi nhân thật dịu vợi, thoát ra từ mùa trăng kỳ ảo của quê hương. Nó bàng bạc, nó mông lung và một chút gì mỏng nhẹ như làn khói đang xanh trên thành Hoàng Đế.

Qua vầng trăng biểu hiện trong thơ của Mai Thìn cũng đủ làm ta thổn thức và nhớ về một mùa trăng xưa trên thành cũ. Tâm hồn thi nhân rung lên từng cung bậc theo phiến trăng nơi quê cũ đầy ưu tư mà cũng thừa khoáng đãng.

Trăng sẽ cô đơn và ít đi vẻ đẹp phiêu bồng khi thiếu đi những đôi uyên ương, thiếu đi những nàng thôn nữ.

Đọc thơ Mai Thìn, hồn ta như trôi cùng hương thoảng, có nỗi buồn và niềm mong nhớ, có tình yêu và giây phút ngập ngừng, nhưng nó không gắt chói đam mê và nghiệt ngã. Nó là thứ hương tình yêu. Ở đó bộc lộ một thứ tình yêu trong trắng, chân thành, luôn nhận về mình những thiệt thòi, đầy vị tha và độ lượng.               

...Đi đi em  

Và đừng quay trở lại 

Vết đau nào xẻ dọc bờ thương               

Đôi mảnh nhớ nguyện cầu hạnh phúc                         

Còn nỗi buồn trên thế gian làm sao tôi có được

Nếu không em.                         

(Tràng hạt hạnh phúc, HMYT)

Thơ Mai Thìn không chỉ có tình yêu trai gái, làng quê mà tình mẹ, tình bạn bè cũng được phản ánh ảnh khá sâu đậm:

Một đời bóng mẹ tỏa quanh

Cây lên thành trái trái thành chúng con

Bây giờ dáng mẹ hao mòn

Vào ra thơ thẩn nhớ con nhớ làng.

(Nhớ quê, KSC)

Và nỗi nhớ đó thật da diết khi xuân sang:

Ai đi ngoài ngõ nghe xuân đến

Rét mướt lùa trên mấy hàng cau.

(Tết này em có thăm quê, KSC)

Từ Cổ tích tình yêu (1991) đến Khúc sơn ca (2005), Mai Thìn có nhiều tiến bộ trong cấu trúc, trong đề tài, đã mở rộng không gian và thời gian, tiếc rằng còn chưa nhiều lắm. Mong rằng Mai Thìn có bước bứt phá ngoạn mục hơn nữa trong những tập thơ sắp đến.

(Theo BBĐ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác