"Tạp văn" và một góc khác của Đình Quang

Bên cạnh Giải thưởng Hồ Chí Minh về bộ sách lý luận 4 tập, GS.TS. Đình Quang lại gây bất ngờ với "Tạp văn"- một tác phẩm văn học đích thực. Dường như ông không định làm văn nhưng tác phẩm của ông có sức lay động và thu hút đến lạ lùng. Phải chăng sức hấp dẫn của tác phẩm bắt đầu từ sự minh triết "là mình" trong chính tác giả.

1. Đọc xong Tạp văn của Đình Quang vẫn thấy giọng rủ rỉ như chính con người ông. Xuất bản cuối năm 2009 khi ông đã qua ngưỡng bát tuần, tác giả tuổi đã cao hẳn hay có hoài niệm, ngẫm ngợi, nhìn lại trong đó nhưng lạ cái là không hề tìm thấy chút thanh minh, giải thích về mình hoặc trách cứ, hậm hực ai đó, chuyện gì đó. Ở tuổi bát tuần, Đình Quang "nhớ tết chiến khu xưa" vẫn tươi rói cách nhìn của tuổi trẻ. Cái khổ ngày xưa hiện về vẫn đầy lạc quan khi cả đơn vị mấy chục người đón tết chỉ có chú vện là chất tươi dự trữ. "Xử lý" chất đạm duy nhất trong ngày tết này mà cũng mất đến 2 đêm thảo luận với bao nhiêu tri thức ẩm thực của ba miền được đề xuất.Và nghị quyết được đưa ra là không được nướng vì sợ ngót để rồi anh lính Đình Quang được chia 2 miếng xào mặn cứng, một miếng luộc cùng hai khúc sắn. Vậy mà cái miếng xào mặn cứng ấy lại là bữa tiệc để mọi người ngậm mãi đi tiếp con đường của nó.

Nỗi nhớ của tác giả "Tạp văn" là nhớ về cái khổ, về sự đau thương một thời để đem cái anh hùng của một thời ấy soi rọi vào hôm nay, ngõ hầu ngẫm sâu hơn về cách sống hiện tại. Chuyện tác giả ngày ấy ngâm thơ mà không ai vỗ tay là một chuyện thật sự xúc động: "Nhưng khi ngâm xong bài thơ, lại là một sự im lặng kéo dài. Tôi hoang mang. Đi dọc theo lán nhìn kỹ qua ánh đèn dầu mới biết nhiều anh em không còn tay để mà vỗ nữa. Sự im lặng hôm ấy đã ám ảnh tôi mãi mãi!...".

Nhớ về những người một thời, Đình Quang cung cấp cho bạn đọc những chi tiết mới lạ về những người nổi tiếng mà ông từng tiếp xúc, nhưng không phải để bạn đọc tò mò mà để tìm sự thông cảm và nâng nhân vật của mình lên. Viết về Nguyễn Tuân và bạn bè, ông khắc họa đôi nét đã ra chất nhà văn lớn với chi tiết nhận chai rượu Sake, có người gợi ý "hình thức đẹp nhưng không biết nội dung thế nào" vậy mà chai rượu vẫn không được mở. Nút chuyện được mở khi mấy ngày sau nút chai rượu cũng được mở chỉ vì Nguyễn Tuân muốn ngắm cho chán mắt  đã, "chưa ngắm đã vội tu thì còn ra thể thống gì", "với lại, mọi người đã nhâm nhi Đình Bảng rồi lại độn thêm Sakê thì bằng cho chúng nó phá nhau à". Và Nguyễn cười "Tất nhiên tớ mời đủ cả những người có mặt ở đây hôm trước, uống vụng chúng nó thế nào được". Kể chuyện thực nhưng Đình Quang lách ngòi bút vào cả nơi góc khuất của nhân vật và từ góc khuất ấy bật ra một tư tưởng. Nguyễn Tuân là thế nhưng Đình Quang lẩy ra được một Nguyễn Tuân khác thật bình dị, thật đời khi nói với vợ "Chúng mình đều đã quá cổ lai hy rồi. Nếu tôi đi trước thì bà buồn nhưng không khổ vì bà còn biết tự lo cơm cháo mà ăn. Còn nếu bà đi trước thì tôi không những buồn mà còn khổ nữa vì tôi chẳng biết tự lo sống thế nào. Thôi có gì bà cho tôi đi trước nhé”. Nói về Chế Lan Viên, Đình Quang kể chuyện của một thời "tu dưỡng văn nghệ" ở Bình Trị Thiên mà nhiều tác giả thơ ca lắm khi dở khóc dở cười khi người ta cảm thụ, góp ý, phê phán theo "tinh thần văn nghệ Diên An". Chế Lan Viên có quá khứ thi ca lẫy lừng trước Cách mạng  lúc đó bắt đầu sáng tác lại, vừa có bài thơ "Nhớ lấy để căm thù". Đình Quang chọn được chi tiết Chế Lan Viên trốn biệt khi ông ngâm bài của nhà thơ tên tuổi. Đến khi bài thơ ngâm xong, được hoan nghênh, khán giả về hết, nhà thơ mới từ gốc mít xa xa lao tới ôm lấy người ngâm thơ mình. Đình Quang tự nhận mình là người làm kịch đàn em trước nhà thơ lớn nổi danh trước Cách mạng và chuyện ông kể lại dẫn đến một triết luận sâu xa: Tài năng lớn vẫn cần những khuyến khích nhỏ.

265 trang viết với không ít hồi ức ùa về nhưng hồi ức trong Đình Quang thảy đều là những hình bóng đẹp, tự hào, cảm động với những: Nhớ tết chiến khu xưa, Một thời không quên, Mùa cưới nhớ tiếng súng chỉ thiên, Một người về từ Trường Sơn...Tuổi già cũng có những day dứt và day dứt trong ông không phải là sự tiếc nuối mà là sự tự kiểm. Tác phẩm đầu tiên trong tập sách là Day dứt quê hương. Quê hương trong ông là cái làng Áng Sơn ở Hoa Lư, Ninh Bình nơi ông sinh ra. Tuổi bát tuần nhớ về quê hương ăm ắp những kỷ niệm cụ thể sinh động để rồi "Nhiều lúc tự hỏi thực ra mình có quê không? Nói không thì cũng chẳng phải. Tên làng Áng Sơn luôn xuất hiện trong những bản khai lý lịch. Bảo có lại tự thấy xấu hổ". Tự xấu hổ vì bao năm theo cách mạng cứ đi biền biệt, lúc già trở về đi giữa làng mà cứ như ở đồng đất quê người vì ngoài vài người thân trong họ cũng chẳng quen biết, gắn bó với ai trong làng! Hóa ra quê hương trong ông là sự gắn bó chứ không phải là những dòng ghi trong lý lịch. Sự ân hận, tiếc nuối nếu có trong ông cuối cùng lại là "Tám mươi tuổi đời, lặn lội đã nhiều, ngược xuôi cũng lắm, nước trong nước ngoài đủ cả nhưng vẫn tiếc là đời mình đã không có một quê hương thực sự gắn bó để thương để nhớ”...

Một phần quan trọng trong "Tạp văn" của Đình Quang là hồi ức song hồi ức trong Đình Quang thống nhất trong sự "Là mình" của ông dù là anh lính Đình Quang, ông thầy Đình Quang hay vị thứ trưởng Đình Quang cho đến tận khi là ông lão tám mươi Đình Quang. Cái sự thống nhất ấy là nhân cách, là tri thức hiểu biết một cách minh triết để dù là ai, tuổi tác thế nào thì mình vẫn cứ là mình để yên tâm và tự hào về con đường đã đi.

2. Cầm bút sáng tác từ hồi còn trai trẻ với những kịch bản như Khăn tang kháng chiến, Người anh, Bên kia, Hạt vàng...nhưng "Tạp văn" của Đình Quang xuất hiện khi ông bước qua ngưỡng bát tuần không khỏi khiến bạn bè đồng nghiệp và học trò ngỡ ngàng. Có thể, những thành tựu của một nhà giáo, nhà quản lý, nhà lý luận và đặc biệt là Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT cho bộ sách gồm 4 tập lý luận: "Về sân khấu Việt Nam", "Về sân khấu nước ngoài", "Về văn học nghệ thuật", "Về văn hóa" dày gần ba nghìn trang khiến người ta quên đi con người sáng tác, con người văn chương trong ông.

Đọc "Tạp văn" dường như mới chợt nhớ cái phần thứ tư là nhà sáng tác ở con người "Bốn trong một" trong Đình Quang. Sức hấp dẫn của "Tạp văn" không phải tạo ra  bằng thứ văn chương uốn éo hoặc những chi tiết "động trời" của người nổi tiếng tung ra sau khi đã buông mọi chức tước, quyền lực. "Tạp văn" hút người đọc bằng giọng văn chân thật như rút ra từ gan ruột và từ cái thật ấy gợi lên những suy ngẫm để rồi gấp cuốn sách lại người ta tiếp tục suy tư. Bằng giọng văn kể chuyện xen với tả như trong "Ghi bên khu mộ Tần Thủy Hoàng" chẳng hạn, người đọc bị ông lôi đi để rồi sự giật mình lại không không nằm ở những chỗ tả và kể mà nằm ở tâm trạng của tác giả: "Tần Thủy Hoàng với tôi là một con người đầy tham vọng, một tay chưa nắm chặt đốc kiếm tay kia đã vội khắc bia.(...) Một chính khách đã thống nhất và trị vì cả một đất nước mênh mông nhưng cũng chỉ giữ lại cho mình một gò đồi xác xơ". Thế rồi cả khu mộ 52 cây số vuông không ai biết và nhòm ngó tới được biết đến chỉ vì để rồi khu mộ có hiện ra thì thiên hạ vẫn chẳng nhớ thêm đến vị hoàng đế xưa ngoài những hàng tượng chi chít, những cỗ xe tứ mã khéo léo của những nghệ nhân làm ra nó. Hóa ra "trên cõi đời này, mọi sự đều sẽ băng hoại, chỉ có trí tuệ và sáng tạo của con người là vĩnh cửu".

Trong "Tạp văn" có những truyện ngắn, truyện ký khá đặc sắc với những nhân vật được khắc họa như...không định khắc họa lại làm nên sự khó quên như Ông Quản Tạo (Day dứt quê hương); Ông Điều, ông Quyền, anh Phức, anh Lạc (Thời của một người) hay anh Lựu (Một người về từ Trường Sơn)... Đình Quang là người kiệm chữ, văn của ông đặc quánh chi tiết và gợi. Nhân vật của ông nhiều khi chỉ thoáng qua trong hồi ức nhưng có sức liên tưởng, thậm chí đầy... kịch tính. Chỉ mươi dòng về nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh trong Một thời không quên cũng đáng để người đọc ngẫm ngợi. Tác giả tả nhân vật  khá uyên bác, chịu đọc và tay lúc nào cũng khư khư ôm tập "Tư bản luận" đang dịch dở dang khiến Đình Quang ngạc nhiên lắm vậy mà tưng tửng như không, mấy dòng sau ông chỉ "kể thêm": Một thời gian sau được tin anh đã dinh tê và cho đến giờ ông vẫn còn ngơ ngác: "Không biết đến lúc nào thì anh hoàn thành bản dịch Tư bản luận".

Tác giả không chia nhưng người đọc cảm thấy trong "Tạp văn" của Đình Quang có hai phần rõ rệt: Phần sáng tác (Hồi ký, hồi ức, truyện ngắn, truyện ký) và phần Tự cảm ( Những bài tạp cảm). Đại từ nhân xưng trong những bài Tạp cảm nhiều khi là "Tôi" nhưng dường như cái tôi ấy không phải là để nói về mình, phán xét đời, phán xét người mà cái "Tôi" ấy như cuộc đối thoại với chính mình. Bạn đọc đọc xong, gấp cuốn sách lại và tìm thấy chính mình trong cái Tôi của tác giả. Đối thoại với chính mình thành sự chia sẻ và sự chia sẻ ấy là một thành công bởi tính triết luận sâu xa được diễn giải một cách cụ thể và giản dị. Dường như nội lực trong tác giả càng lớn, triết luận càng sâu thì chữ nghĩa, trình bày, diễn đạt càng đơn giản , không có sự nhấn nhá cố tình hay khoa trương. Cũng đúng thôi bởi cái nghĩ đến tận cùng, hiểu đến tận cùng thì con đường đến với người đối thoại là ngắn nhất . Những phút giây hạnh phúc, Về sự trung thực, Về lẽ công bằng, Về chữ Thọ, Ôi thủ tục hành chính, Đọc Vũ Như Tô ngẫm vè thân phận kẻ sĩ, Tôi thuộc loại ngu ngốc nào đây, Nỗi khổ của những cái gật đầu, Dấu hỏi từ ngàn năm... là những bài dạng như thế!

Đình Quang được Giải thưởng Hồ Chí Minh về 4 tập sách lý luận (và gần đây nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì) có thêm "Tạp cảm" đã gây bất ngờ nhưng khi đọc xong vẫn thấy trong ông sự khúc chiết, tinh tế và sâu sắc dẫu viết văn hay lý luận. Đấy là sự minh triết suốt đời phấn đấu để được "Là mình" trong ông chăng...

 

Theo SKĐS

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác