Thi hứng thêm nồng - một công trình nghiên cứu thơ ca Chủ tịch Hồ Chí Minh mới nhất của Lê Xuân Đức

Chúng ta đều biết, thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là một phần trong sự nghiệp cách mạng của Người. Cho dù Chủ tịch Hồ Chí Minh làm thơ không phải với tư cách một nhà thơ, mà với tư cách một nhà cách mạng, thơ Hồ Chí Minh vẫn để lại những bài học sâu sắc về nhiều phương diện, trong đó có những bài học sâu sắc về nhân sinh và bài học về nghệ thuật.

Bài học về nhân sinh, trước hết thể hiện ở chính con người tác giả, với cả một đời hoạt động không biết mỏi mệt; đồng thời cũng thể hiện qua chủ định ở những bài thơ, những câu thơ của Người: mong xã hội có những con người vì nhân dân, vì đất nước. Bài học về nghệ thuật thể hiện ở việc làm thơ, với những câu hỏi chung cho nghề viết, mà đã có lần Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến: viết cho ai, viết để làm gì, viết như thế nào…(1).

 

Cũng chính vì thế, thơ Hồ Chí Minh có sức hấp dẫn rất mạnh với người đọc nói chung, với các nhà nghiên cứu nói riêng. Hơn nửa thế kỷ qua, đã có không ít công trình nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh – của một hay của nhiều tác giả - ra đời. Thi hứng thêm nồng của nhà nghiên cứu phê bình văn học Lê Xuân Đức là công trình mới nhất.

 

Quyển sách dày trên 300 trang này, do Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân vừa in cuối năm 2006 thuộc loại sách người ta thường gọi là bình luận văn học, mà tác giả khiêm tốn ghi ở dưới tên sách: đọc thơ Hồ Chí Minh.

 

Đọc thơ Hồ Chí Minh, đúng như Lê Xuân Đức quan niệm: vừa dễ lại vừa khó. “Dễ vì thơ Bác giản dị, dễ hiểu; khó vì thơ Bác hàm súc, tinh tế. Làm sao tiếp thu được ánh sáng tư tưởng, trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, đạo đức cao đẹp trong thơ Bác một cách chân thực nhất… mà không bị gượng ép, khiên cưỡng” (Tr.313).

 

Quả là một hướng đọc, một hướng nghiên cứu khoa học. Chúng tôi đã từng thấy một vài công trình nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh, trong đó nói về bài thơ này, tác giả bảo: đây là một bài thơ rất hay; nói về bài thơ kia, tác giả bảo: đây là bài thơ đặc biệt hay; nói về bài thơ nọ, tác giả bảo: đây là bài thơ tuyệt hay. Về ý thơ, thì ý này rất sâu; ý kia rất quý; ý nọ rất sinh động…Nhưng nó rất hay, đặc biệt hay, tuyệt hay, sâu, quý, sinh động như thế nào, thì tác giả hoặc không chứng minh, hoặc nhiều khi chứng minh một cách gò ép, khiên cưỡng, ít sức thuyết phục.

 

 Lê Xuân Đức thì không lạm dụng những trạng từ, những mỹ từ một cách sáo rỗng như trên. Anh bám sát văn bản, nghiên cứu kỹ văn bản; từ đó phát hiện, lý giải, chứng minh, và thường để cho giá trị của bài thơ, của câu thơ, của ý thơ, thậm chí một từ, một chữ trong câu thơ thể hiện một cách tự nhiên. Chẳng hạn, bình luận bài thơ Báo tiệp -  Tin thắng trận, anh tập trung sự chú ý của mình vào từ thôi (đẩy) ở câu Nguyệt thôi song vấn: Thi thành vị? (Trăng đẩy cửa hỏi: Thơ xong chưa?) và viết: “Trăng tự đẩy cửa vào, chẳng cần báo hiệu chủ nhà ra mở, lâu nay thường thế, hôm nay cũng thế, vì trăng với người vốn đã là bầu bạn thân thiết của nhau, tri kỷ tri âm. Cho nên trăng đến một cách tự nhiên và hỏi tự nhiên, thân tình đến mức không cần chủ ngữ: Thơ xong chưa? (Thi thành vị?) Nhà thơ cũng trả lời tự nhiên: Chưa làm thơ được (Vị tố thi)… trăng được nhân vật hoá để trò chuyện với Người. Người và trăng là hai nhân vật trữ tình, nhưng lại chính là một…” (Tr.101). Đi xa hơn một mức nữa, Lê Xuân Đức lưu ý về nghĩa của một số bài thơ Hồ Chí Minh. Chẳng hạn, anh thấy: “Bài thơ Nghe tiếng giã gạo có hai tầng nghĩa: tầng nghĩa thực và tầng nghĩa triết lý” cũng như các bài: Nghe tiếng gà gáy, Cột cây số, Tự khuyên mình… “Ở tầng nghĩa thực, Bác thường kể hoặc miêu tả diễn biến của sự vật, của hiện tượng làm tiền đề để bật ra tầng triết lý. Tầng triết lý ấy là tư tưởng bài thơ, được bộc lộ hoặc rút ra ở cuối bài thơ nhưng bản thân sức thuyết phục lại nằm ở tầng nghĩa thực” (Tr.24).

 

 Bám sát văn bản bài thơ, câu thơ Hồ Chí Minh, và kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Thi hứng thêm nồng vừa khẳng định vừa phát hiện một số bản dịch thơ chữ Hán đã thể hiện sai, hoặc dễ làm cho người đọc hiểu sai ý thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chẳng hạn, câu Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ (trong bài khán “Thiên gia thi” hữu cảm) có nghĩa là: Thơ xưa thường nghiêng về yêu vẻ đẹp của thiên nhiên, có những bản dịch “bỏ sót chữ thiên nên câu thơ được dịch là Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp, vô tình đã gây nên sự hiểu lầm không đáng có” (Tr.289). Hoặc như với bài Công lý bi – Cột cây số, hai câu: Tiểu tiểu nhất phiến thạch – Ngật lập đại đạo bàng nghĩa là: Một phiến đá nho nhỏ - Đứng thẳng bên đường lớn, Lê Xuân Đức dẫn hai câu trong một bản dịch thơ: Một phiến đá nho nhỏ - Đứng sừng sững bên đường, và viết rất chí lý: “Câu thơ Ngật lập đại đạo bàng mà dịch là Đứng sừng sững bên đường là không chính xác. Chữ sừng sững ở đây… dễ gây nên sự hiểu không đúng ý tác giả và làm sai lệch nội dung bài thơ. Nếu xét về lôgích hình thức thì cũng không đúng, vì đã nho nhỏ thì làm sao mà sừng sững được” (Tr.46). Tác giả Thi hứng thêm nồng còn dẫn ra những bản dịch khác đã dịch không chuẩn, như với bài Tự miễn – Tự khuyên mình, ở các trang 18-19; như với bài Văn thung mễ thanh – Nghe tiếng giã gạo, ở các trang 22-23; như với bài Bệnh trọng – Ốm nặng, ở trang 42…

 

 Lê Xuân Đức còn có cách nhìn ở một chiều sâu, như về chất thép (thiết) trong thơ Hồ Chí Minh (Hiện đại thi trung ưng hữu thiết): “Cuộc đời đòi hỏi trong thơ có thép, một thứ thép được tôi luyện tự bên trong bản thân nhà thơ. Chất thép phải do nhà thơ dày công tu dưỡng mọi mặt mới có được, mới tạo nên được chữ thép trong thơ, chứ không phải như có người đã nghĩ là chỉ dựa vào đề tài” (Tr.290).

 

Ở đây lại thấy sự đối thoại, tranh luận, thậm chí phê phán vốn là điều đặc biệt cần thiết đối với việc nghiên cứu, mà tác giả Thi hứng thêm nồng có được, ở những chỗ khác nữa, trong cả quyển sách của mình. Chẳng hạn, anh không tán thành khi có nhà nghiên cứu văn học coi bài thơ Văn thung mễ thanh – Nghe tiếng giã gạo của Hồ Chí Minh “như một câu chuyện ngụ ngôn và phân tích nó như cách phân tích một truyện ngụ ngôn” (Tr.22); hoặc bàn luận về chuyện tửu vị tàn (rượu chửa vơi) trong bài Thu dạ - Đêm thu (Tr.119); hoặc không đồng tình với một phương pháp nghiên cứu “đem áp đặt một cách máy móc tất cả tư tưởng – chính trị của Bác vào thơ mà không xuất phát từ bản thân bài thơ, từ văn bản thơ” (Tr.313); hoặc phân tích kỹ nhiều chỗ dịch thơ không chính xác như đã nói trên…

 

Cùng với việc bám sát văn bản bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để cho văn nghiên cứu, bình luận tránh đơn điệu và trở nên đa dạng, uyển chuyển, sinh động, những khi cần, Lê Xuân Đức đã triển khai, đã mở rộng bài thơ, ý thơ, câu thơ theo những hướng khác nhau mà vẫn không xa rời nguyên bản. Anh dẫn thơ cổ kim đông tây: thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Trần Bích San; và Tố Hữu, Chế Lan Viên; và Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị… để so sánh, đối chiếu. Anh nhắc lại những sự kiện lịch sử, những chặng đường cách mạng, và cả những chuyện thường nhật liên quan đến thơ Hồ Chí Minh giúp người đọc có một cái nhìn rộng hơn, sâu hơn… Chẳng hạn, bình luận bài thơ Tư chiến sĩ – Nhớ chiến sĩ, nhắc đến câu Khoái tống hàn sam cấp chiến sĩ (Áo rét gửi mau cho chiến sĩ), anh nhớ đến hai sự việc khác liên quan đến áo rét, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm: tặng một cán bộ ở chiến khu chiếc áo người khác đã tặng Bác, và khoác chiếc áo của mình cho một tù binh Pháp bị thương (Tr.109)…

 

Cứ như vậy, Lê Xuân Đức với một bút lực giàu kinh nghiệm, dày công và tràn đầy cảm xúc đã đem lại cho người đọc những trang sách, thực sự bổ ích, chân xác, lý thú và khoa học.

 

Nếu có gì cần bàn lại với tác giả Thi hứng thêm nồng, chúng tôi nghĩ có thể chỉ là những chuyện sau đây:

 

Ở trang 260, tác giả có ghi một chú thích: “Từ năm 1946 đến năm 1969, mỗi khi Tết đến xuân về, Bác đều có Thư và Thơ chúc Tết đồng bào chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế”. Thật ra thì từ năm 1946 đến năm 1969, có ba năm, vì những lý do nào đó, Bác Hồ không có thư và thơ “Chúc Tết đồng bào chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế”. Đó là các năm 1955, 1957, 1958. (Cũng cần nói thêm: bài thơ chúc Tết đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải viết năm 1946 mà là năm 1942: bài Chúc năm mới, đăng báo Việt Nam độc lập số 114, 1-1-1942).

 

Trong Thi hứng thêm nồng, ở trang 185, 219, 225 và 300, có bốn lần tác giả nhắc đến những câu thơ trong bài thơ Đi thuyền trên sông Đáy mà anh cũng như các nhà nghiên cứu và công chúng lâu nay đều coi là thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh(2). Không những thế, anh còn có cả một bài, từ trang 84 đến trang 89 bình luận bài thơ Đi thuyền trên sông Đáy, vẫn được coi đó là thơ của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, về bài thơ này, có một tư liệu rất đáng chú ý, lần đầu tiên được công bố trong quyển Hồ Chí Minh – thơ, toàn tập của Nhà Xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, in năm 2000 – mà mấy năm trước, chúng tôi đã có dịp bàn sơ qua và lưu ý người đọc. (Xem: Hồng Diệu – Có gì mới trong “Hồ Chí Minh – thơ, toàn tập” in trên Văn nghệ quân đội số 5 – 2001, và in trong Qua văn hiểu người, Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân, 2005). Theo nhà nghiên cứu Trần Đắc Thọ, người đã dịch nghĩa, chú thích và hiệu đính văn bản quyển sách này, thì trong lần gặp nhà thơ Tố Hữu vào ngày 25-2-1998, ông được nhà thơ Tố Hữu cho biết: Bài thơ Đi thuyền trên sông Đáy không phải của Bác Hồ (có lẽ của đồng chí Xuân Thuỷ). Bác Hồ chưa một lần đi thuyền trên sông Đáy, làm sao có thơ được (Hồ Chí Minh – thơ, toàn tập; sách đã dẫn, Tr.436). Một số trang trong Thi hứng thêm nồng cho thấy tác giả đã đọc Hồ Chí Minh – thơ, toàn tập; nhưng không thấy anh đề cập chuyện này. Chúng tôi nghĩ, lẽ ra Lê Xuân Đức, hoặc là cũng nên coi Đi thuyền trên sông Đáy thuộc loại thơ ở dạng tồn nghi như cái từ mà giới nghiên cứu thường dùng, khi chưa xác định được tác giả; hoặc là anh cần chứng minh một cách thuyết phục rằng đó chắc chắn là thơ Hồ Chí Minh – như trong Thi hứng thêm nồng, anh đã mặc nhiên coi như vậy(3).

 

Trở lên, chúng tôi đã đọc Thi hứng thêm nồng và đưa ra cách nhìn của mình về quyển sách. Cũng cần nói thêm một điều không phải ai cũng biết: Thi hứng thêm nồng chỉ là một trong năm quyển sách của nhà nghiên cứu phê bình Lê Xuân Đức chuyên viết về thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bốn quyển khác được xuất bản từ những năm trước là Đến với những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2002 – tái bản 2003 và 2005), Đọc thơ Bác Hồ (2005), Nay ở trong thơ (2005), Lời bình 79 bài thơ của Bác Hồ (2006) – mặc dù trong những quyển sách này, có một số bài được tác giả (hay Nhà Xuất bản) in lại.


Như vậy, bằng vào số lượng những trang viết ấy cũng như những điều bổ ích và lý thú mà những trang viết ấy đem lại, có thể nói, Lê Xuân Đức là một chuyên gia nghiên cứu, tìm hiểu về thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – một di sản quý giá mà Người để lại cho chúng ta, và cho các thế hệ mai sau.

 

 

Theo CPV

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác