Thơ dân tộc thiểu số qua các thời kỳ phát triển của đất nước

Có thể nói từ khi có Ðảng, có cách mạng thì mới có thơ hiện đại dân tộc thiểu số. Ðó là tiếng thơ của nhà hoạt động cách mạng Hoàng Văn Thụ. Là thơ của nhà thơ dân tộc Dao Bàn Tài Ðoàn (giải thưởng Nhà nước về văn học) với sự phát hiện, dìu dắt ban đầu của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp.

Là thơ của nhà thơ dân tộc Tày Nông Quốc Chấn (giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học). Là thơ của các nhà thơ: Lò Văn Mười, Cầm Biêu, Hoàng Nó (Thái), Ðinh Sơn (Mường), Mã Thế Vinh (Nùng)...

Sau hòa bình lập lại, thơ dân tộc thiểu số thiên về ngợi ca quê hương đất nước; ngợi ca công ơn của Ðảng, Bác Hồ, ngợi ca cảnh làm ăn tổ đổi công, hợp tác xã; ngợi ca sự đổi mới, đổi đời của người dân tộc:

Núi cao bao nhiêu ngọn
Núi bao nhiêu hang sâu
Khi Cụ Hồ chưa đến
Ai biết đâu là đâu!
Nước trong xanh dòng suối
Trải mưa nắng bao đời
Khi Cụ Hồ chưa tới
Ai biết dòng đầy vơi!

        (Bài thơ Pác Bó -  Nông Quốc Chấn)

Xưa đi đường chỉ gặp con hươu
Nay đi đường ta được gặp bạn

Ra đường lên xe đi vui sướng
Còn muốn ngồi thêm đã tới nơi

        (Bàn Tài Ðoàn) 

Ðặc biệt bài thơ Quê ta anh biết chăng của Triều Ân đã đoạt được giải nhì trong cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ năm 1960, đánh dấu một bước trưởng thành thơ dân tộc thiểu số. Nội dung bài thơ ca ngợi quang cảnh làm ăn tập thể, trong đó nổi lên hình ảnh anh chủ nhiệm HTX đi đón máy cày về quê núi để chấm dứt cái cảnh "con trâu đi trước cái cày đi sau". Không khí toát lên trong cả bài thơ: phơi phới, tươi đẹp, lạc quan, tin tưởng.

Khi cuộc đấu tranh thống nhất đất nước đã lên đến đỉnh điểm thì thơ ca cả nước (trong đó có thơ ca dân tộc thiểu số) đều nhằm vào hành động "Tất cả cho tiền tuyến". Một lần nữa thơ kháng chiến, thơ chiến đấu, thơ đánh giặc lại nổi lên hào khí anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của cả dân tộc. Và có những bài thơ mà tác giả là người dân tộc thiểu số đã xuất hiện, trở nên nổi bật. Ðiển hình là chùm thơ được giải nhì cuộc thi thơ trên báo Văn Nghệ năm 1969 của nhà thơ Vương Anh: Hoa trong mường, Tình còn tình chiêng, Theo những dấu chân, Một đoạn đường ta qua.

Ðó là thơ chống Mỹ, cứu nước, thơ xây dựng CNXH, thơ lương tâm của thời đại mà Việt Nam là điểm nóng, với một loạt bài thơ nổi tiếng đã ra đời từ trong các chiến hào mà người đọc Việt Nam ai cũng biết, cũng nhớ, cũng thuộc, trong đó có những bài thơ đã trở thành bài ca bất hủ. Riêng thơ dân tộc thiểu số cũng có những bài đi vào lòng người như: Bóng cây kơ-nia (của người Hơ Vê do Ngọc Anh dịch), Cô gái vót chông (MôlôYcla), Tháng ba Tây Nguyên (KpaYlang), Người chiến sĩ áo chàm, Chiếc ba-lô (Y Phương)...

Từ sau năm 1975, nhất là vào những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 - thơ ca dân tộc thiểu số, một lần nữa lại nổi lên trong không khí chiến đấu, bảo vệ biên cương của Tổ quốc yêu dấu. Lương Quy Nhân lập tức  có bài Ðất mang đậm mầu sắc dân ca dân tộc :

Ðất khoanh vòng, bọc lấy dân mường
Ðất thành đai biên giới cắm chắc
Ðất bằng một sợi tóc cắt vuông, không buông
Ðất bằng một hạt cát bẻ đôi, không nhường.

Bên cạnh đó là Núi mọc trong mặt gương của Mùa A Sấu, Tên làng, Phòng tuyến Khâu Liêu của Y Phương, Biển chàm trên núi của Pờ Sảo Mìn. Chiều biên giới của Lò Ngân Sủn được in trên báo Nhân Dân năm 1980, rồi ngay sau đó được nhạc sĩ Trần Chung phổ nhạc. Bài thơ từ đó được cả nước biết đến như một hiện tượng cùng với các bài thơ khác đầy chất trữ tình cũng được phổ nhạc như: Gửi em ở cuối sông Hồng, Hoa sim biên giới...

Vào thời đổi mới, các nhà thơ dân tộc thiểu số lão thành bây giờ thường hay viết thơ thế sự, thơ triết lý. Cầm Biêu có bài thơ Chỉ cần một loại người; nhà thơ Lò Văn Cậy có bài thơ: Lời mẹ; nhà thơ Bàn Tài Ðoàn có bài thơ Quét nhà; nhà thơ Nông Quốc Chấn có bài thơ Ðầu tóc; nhà thơ Ka Sô Liễng có bài thơ Cánh chim:

Con chim không bao giờ quên
Mặt đất nuôi sống mình
Và khi chim mỏi cánh bay về
Ðôi chân nhỏ bé kiên trì
Lại lặng im đưa chim đi vững vàng từng bước
Ðể rồi từ mặt đất
Chim lại xòe đôi cánh bay cao

Các nhà thơ dân tộc thiểu số ở lứa tuổi trung niên, thanh niên, đang còn sung sức thì thường viết táo bạo, tươi mới, trẻ trung hơn. Ðặc biệt trong lĩnh vực thơ tình, thơ bây giờ tâm tư, tâm trạng, tâm linh hơn trước. Trong đó có một số bài thơ đã đạt tới một độ cao nhất định, đã đi vào lòng người đọc. Vương Anh có: Cơm mường Vó, lúa mường Vang; Buộc chỉ cổ tay; Ðinh Lằm có Ruộng bậc thang; Lò Văn Tâm có Cổng vào bản; Pờ Sảo Mìn có Cây ống khói, Cây hai ngàn lá, Thị trấn đôi ta, Con trai người Pa Dí; Lâm Quý có Tình em đêm hát ví, Nếu em bỏ chồng, Thêu cả bốn mùa; Y Phương có Mùa hoa, Em - cơn mưa rào - ngọn lửa, Em cười hiền, Người không thấy thì trời thấy; Dương Thuấn có Ăn theo nước, Em - người xa lạ, Cực tình; Mai Liễu có Gọi vía, Mùa bông, Tìm tuổi, lúc lắc; Inrasara có Tháp hoang, Con đường lửa thiêng, Trường ca quê hương; Triệu Kim Văn có Lời mùa xuân; Hơ Vê có Thương lắm nhớ nhiều... Ta hãy đọc thử một số đoạn, câu thơ sau để phần nào thấy được cái tình yêu bốc lửa của người dân tộc:

Mùa hoa
Mùa đàn bà
Mặt đỏ phừng
Thừa sức vác ông chồng
Chạy phăm phăm lên núi

            (Mùa hoa - Y Phương)

Em buông váy
Cho hoàng hôn mau tắt
Xòe ngàn hoa
Chảo đảo cả ngàn sao

            (Ngẫu hứng đêm lễ hội - Lương Ðịnh)

Em yêu anh đến cuồng điên
Yêu đến tan cả em
Ðập nát đơn điệu, khuôn khổ của cũ kỹ, nhàm chán và cam chịu

            (Không thanh thản - Vi Thùy Linh)

Nhu cầu cuộc sống bây giờ đã khác trước. Nhưng tôi tin rằng con người vẫn còn có nhu cầu về đời sống tinh thần (trong đó có thơ ca).

(Theo ND)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác