Thơ Xuân Thủy, tầm nhìn và nhiệt huyết

Xuân Thủy là một cán bộ cao cấp của Ðảng, nhiều năm làm công tác Mặt trận, cũng là một nhà ngoại giao lịch lãm. Ông cũng là một nhà báo có uy tín, một nhà thơ được sự mến mộ trong văn giới.

Ông làm thơ không ít nhưng chỉ chọn in một tập năm 1987 tại Nhà xuất bản Văn học. Nhưng đây là một tập thơ khá tiêu biểu, còn để lại dư âm trong lòng người đọc lâu dài.

Thơ của ông thường vì mục đích cách mạng. Rõ ràng thơ của ông là thi ngôn chí. Cũng phải hiểu chí ở đây bao gồm cả tình cảm cách mạng. Cái chí xoay chuyển cả thiên hạ, cả địa cầu ấy của ông và những người cách mạng ngày nay đã thành hiện thực chói sáng trước mắt chúng ta. Nước nhà đã hoàn toàn độc lập và thống nhất và đã tiến lên những bước tiến đem lại cho ta một vị trí đáng chú ý trên trường quốc tế. Chúng ta cũng có phần đóng góp lớn lao vào việc xóa bỏ chủ nghĩa thực dân mới trên trái đất này. Thế nhưng ta cũng phải nhớ rằng cái chí đó, nhà thơ Xuân Thủy đã ôm ấp nó từ những ngày ông và các đồng chí của ông còn bị cùm xích trong các nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, Ban Mê và Sơn La. Ðó mới là điều đáng kể.

Tiêu biểu nhất trong tập Thơ Xuân Thủy là bài thơ Không giam được trí óc, một bài thơ đáng được khắc bia đá trong bảo tàng ở các nhà tù đế quốc để làm chứng tích lịch sử:

Ðế quốc tù ta, ta chẳng tù

Ta còn bộ óc, ta không lo

Giam người khóa cả chân tay lại

Chẳng thể ngăn ta nghĩ tự do.

Những câu thơ tự khẳng định nhân cách không gì lay chuyển được của một con người tự do trên trái đất này mang một tư tưởng nhân văn lớn mà bọn đế quốc không thể nào hiểu nổi. Xuân Thủy đã có một tầm nhìn phổ quát về vũ trụ, về loài người:

Ðời ta đã sẵn một con đường

Ý nghĩ ta đi khắp bốn phương

Ði đến hang sâu, vào ngục tối

Gọi hồn nhân loại, nén đau thương...

... Cửa kín tường cao bưng bít mấy

Ta nhìn vũ trụ vẫn bao la...

Thơ ông còn thổi lại cho ta luồng gió nóng của một tâm huyết: Sống và đấu tranh vì đất nước, vì cách mạng, bị lao tù khảo tra tàn khốc mà vẫn yêu đời vì tranh đấu. Cuộc sống của các "chính trị phạm" trong những nhà tù đế quốc dã man đến cực độ đã được thơ ông ghi lại bằng những nét vừa đầy sức tố cáo, vừa hài hước sâu cay, dù ở Hỏa Lò Hà Nội, hoặc nhà tù Sơn La.

Viết về Bác Hồ, thơ Xuân Thủy đã cho ta sống những tình cảm trong sáng, hồn nhiên và đầy xúc động, như trong bài Ngày độc lập, cái ngày lịch sử diệu kỳ không thể nào mờ phai trong ký ức:

Trên Chính phủ lễ đài lồng lộng

Hồ Chí Minh, Người bỗng hiện ra

Ka-ki bộ áo hiền hòa

Long lanh đôi mắt đậm đà chòm râu...

Và:

Hợp quần sức mạnh vô song

- Nghe tôi nói, có rõ không đồng bào?

Thưa rõ lắm, trời cao đất rộng

Lời mỗi lời rung động tâm can

Chao ôi ! Nước mất nhà tan

Hôm nay lại thấy giang san bốn bề.

Và có cả bài vừa thức tỉnh lòng yêu nước của những kẻ lầm đường vừa thông cảm với nỗi đau của những người vợ lính có chồng đi làm bia đỡ đạn cho giặc, bằng những lời thơ xúc động thấu tình, như bài Vợ lính gửi chồng:

Chao ôi! Anh chết thảm thê

Chết vì ai thế ? Chết vì theo Tây

Chết vì giặc nước căm thay

Ðời sau mai mỉa, đời nay chê cười

Anh ơi, súng ở tay ai?

Sao không quay lại diệt loài thù chung?...

Thơ tuyên truyền địch vận đấy, nhưng thấm thía lòng người, tình người như vậy đó !

Bài lục bát 600 năm Nguyễn Trãi vừa nói được cái cao cả của Nguyễn Trãi lại toát lên được tinh thần nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam:

Ðã lo cứu nước cứu nòi

Lại lo no ấm ngọt bùi cho dân

Rất hào hiệp, rất nhân văn

Xôn xao trái đất tinh thần Việt Nam.

Như vậy đó, trong thơ Xuân Thủy tính cách mạng và tính trữ tình lúc nào cũng lồng vào nhau nhuần nhuyễn.

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác