Vài suy nghĩ về văn học dân gian Sơn La

Từ những năm 60 của thế kỷ 20, ngành văn hóa Sơn La đã sưu tầm xong văn học dân gian Thái và bắt đầu sưu tầm nghệ thuật văn học dân gian (NTVHDG) các dân tộc: Mường, Dao, Mông và một số dân tộc khác. Trong đó, đã tiến hành một bước công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa văn nghệ dân gian các dân tộc.

Trong xã hội phong kiến trước đây, văn hóa và văn nghệ tồn tại và phát triển bằng truyền miệng và diễn xướng dân gian, nhất là với các tộc người không có chữ viết. Riêng dân tộc Thái có chữ viết, nhưng cũng không thống nhất và cùng tồn tại, phát triển theo cách "cha truyền con nối". Các tác phẩm còn lại đến nay cũng chỉ chép tay và truyền khẩu, cho nên nhiều bản khác nhau. Ðây là đặc điểm nổi bật của văn học dân gian.

Ðảng và Nhà nước không những giải phóng cho các dân tộc thiểu số khỏi ách thực dân phong kiến, chăm lo đời sống cho các dân tộc, mà còn lo giữ gìn, bảo tồn và phát huy tinh hoa di sản văn hóa của mỗi tộc người, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở địa phương.

Ngay từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cùng với việc bố trí các nhà văn, nhạc sĩ vào chiến dịch, công tác sưu tầm và phát hiện tài năng đã được coi trọng. Từ đó hình thành một đội ngũ những người làm văn nghệ như các nhà thơ dân tộc: Lò Văn Mười, Ðinh Sơn, Hoàng Nó, Cầm Biêu; các nghệ nhân: Cầm Bao, Ðiêu Chính Ngâu, Lò Văn Cậy. Nhờ vậy đã có các bản khèn của nghệ sĩ Lương Ðức Phùng, Quảng Văn Song... 

Nhờ nỗ lực của nhiều thế hệ cán bộ văn hóa, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Sơn La mà lần kiểm kê năm 1992, tại kho của Thư viện Bảo tàng Sơn La và Hội Văn nghệ Sơn La đã có hơn ba nghìn bản tư liệu, trong đó có khoảng 30 truyện thơ, trường ca, sử thi dân tộc Thái và một số sử thi và truyện thơ Mường Dao.

Việc dịch và xuất bản các tác phẩm này cũng được chú trọng. Thành công đầu tiên là của Ðiêu Chính Ngấn, cho ra mắt Xống chụ xon xao (trường ca dân tộc Thái) và Bùi Lạc cho ra mắt truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Tiếp theo Xống chụ xon xao, Khun lú nàng ủa có tổng tập văn học dân gian Thái, in bằng chữ Thái; phương ngôn tục ngữ Thái, lời răn người, câu đế Thái, lời tang lễ và lời có vần ông cha để lại (đang in) của Hoàng Trần Nghịch; sử thi Chương Hau (đang in) của Vương Trung... Dân tộc Mường có truyện thơ: Ðang vần va, Mo núi (ca cầu thọ); sử thi Mo - Ðường lên trời; Ðẻ đất, đẻ nước (đang in) của Ðinh Văn Ân. Dân tộc Dao có Thượng truyện truyền đời và thơ ca giao duyên của Lý Văn Kèo. Ngoài ra, còn hơn 20 tập bản thảo có độ dài từ 100 đến 400 trang khổ A4 về lễ cưới, lễ tang, cầu hồn chúc thọ, lên nhà mới, cầu mùa, v.v. của các dân tộc: Thái, Mường, Dao, Xinh Mun, La Ha, Kháng, Mông và Khơ Mú.

Múa và âm nhạc dân gian các dân tộc cũng được nhiều đoàn nghệ thuật dựng làm chương trình; nhiều đơn vị, trường văn hóa - nghệ thuật xây dựng thành chương trình giảng dạy cho học sinh. Ðặc biệt, một số điệu múa dân gian như hệ thống các điệu múa nón, múa nhạc, múa khăn của dân tộc Thái; múa Hưa May, Au co, Tăng bu của Khơ Mú; múa chuông của dân tộc Dao; múa khèn của dân tộc Mông; múa khăn, múa hái bông của dân tộc Mường, với tên tuổi của các nghệ sĩ múa như Lường Tiến, Lò Minh Khùm, Ðinh Phan và Ðinh Chanh đã góp phần vào sự hình thành và phát triển của nghệ thuật múa Việt Nam.

Các làn điệu dân ca vẫn tồn tại và phát triển trong phong trào văn nghệ quần chúng. Nhiều nghệ nhân, ca sĩ được quần chúng tôn vinh. Nhiều làn điệu giao duyên, đồng dao và phương ngôn tục ngữ Thái được sưu tầm, dịch và xuất bản song ngữ hoặc phương ngữ.

Tuy nhiên, đánh giá về thành tựu văn nghệ dân gian ở Sơn La tuy đã được sưu tầm, bảo tồn, nhưng chưa đầy đủ, thiếu chính xác; tư liệu sưu tầm được còn phân tán nhiều nơi quản lý hoặc cho cá nhân lưu giữ; công tác sau sưu tầm như chú thích, khảo dị chưa làm, do vậy khó khai thác.

Một số tác phẩm văn học truyền miệng của dân tộc Thái và các dân tộc không có chữ viết như các sự tích về bản mường, sông, núi và truyền thuyết, truyện cười... đang có nguy cơ mai một, mà công tác sưu tầm triển khai chậm. Nhiều lễ hội, phong tục, tín ngưỡng chưa được ghi chép đầy đủ và chưa được nghiên cứu. Trong kế hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa không có chỉ tiêu sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc, trừ chỉ tiêu của Bảo tàng. Công tác nghiên cứu khoa học chưa khởi động: Toàn bộ tư liệu sưu tầm được đều là bản gốc, chưa dịch, chưa chú thích, khảo dị, do đó không xuất bản được. Nhiều người muốn nghiên cứu không có tài liệu, do vậy giá trị hiện vật không phát huy tác dụng.

Ðội ngũ người làm công tác sưu tầm nghiên cứu hầu hết đều đã cao tuổi về hưu, lớp trẻ không biết tiếng và chữ dân tộc. Trước xu thế hội nhập, nếu không có cán bộ giỏi, tâm huyết và có nghề sẽ làm mai một di sản văn hóa dân tộc.

Để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác sưu tầm nghiên cứu và phát huy giá trị tinh hoa văn hóa các dân tộc, trước hết công tác quản lý văn hóa nên tổng kết đánh giá thành tựu mấy chục năm sưu tầm, nghiên cứu. Cần tổng kết đánh giá đúng giá trị các di sản VHVN các dân tộc như một tiềm năng phát triển con người, phát triển du lịch.

Ðồng thời, thấy rõ thực trạng của công tác sưu tầm, nghiên cứu, xác định mục tiêu của tỉnh đến năm 2010. Tập trung sưu tầm các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian và văn học truyền miệng của dân tộc. Có chính sách ưu đãi đối với nghệ nhân; đầu tư cơ sở vật chất và nhân lực cho Thư viện và Bảo tàng Sơn La, để hai nơi này thật sự trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học và bảo tồn văn hóa dân tộc. Hằng năm nên tổ chức các cuộc hội thảo, trình diễn văn nghệ dân gian gắn với du lịch văn hóa dân tộc nhằm xã hội hóa công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

(Theo ND)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác