Văn chương Việt trên giá sách Mỹ: Những cánh chim báo mùa

Nhà văn Vĩnh Quyền - phóng viên Báo Lao Động - ra mắt tiểu thuyết Anh ngữ Debris of Debris tại Đại học Benedict, Hoa Kỳ.

Văn chương Việt trên giá sách Mỹ: Những cánh chim báo mùa - ảnh 1

Một tủ sách Việt có hệ thống được dịch sang Anh ngữ là nhu cầu tinh thần có thực của hàng triệu gia đình người Việt ở hải ngoại. 

Bắt đầu từ tình tiết phân chim bồ câu. Ấy là trong khi rời thủ phủ bang Minnesota, thành phố cổ kính Saint Paul, sang thành phố “sinh đôi” hiện đại của nó - Minneapolis - chúng tôi vượt cầu I-35W, chiếc cầu bị gãy đôi đột ngột hơn hai năm trước, Daphna, một cô bạn Mỹ trong xe nói, pha chút châm biếm: Trong tường trình điều tra, người ta ghi nhận phân chim bồ câu, từ hàng vạn tổ ở các nhịp cầu, ngày đêm lặng lẽ ăn mòn sắt thép, đã góp phần rút ngắn tuổi thọ chiếc cầu.
Tôi nghiêng ngó qua cửa kính xe cố xem mặt “thủ phạm”. Nhưng bồ câu giấu mình khi bầu trời mỗi lúc mỗi dày bông tuyết đầu mùa. Liệu người ta có phá tổ chim trên cầu? Câu hỏi thương cảm của ai đó trên xe làm tôi nhớ những con chim bồ câu mắc tội làm bẩn kiến trúc Mátxcơva bằng phân của chúng trong truyện “Nửa đời nhìn lại” của nhà văn cuối thời Xôviết Trifonov.

Thế là câu chuyện quay sang lĩnh vực văn chương. Rằng người Mỹ mấy chục năm trước đã đón nhận những tác phẩm của nhà văn Xôviết này như thế nào qua bản Anh ngữ. Rồi từ văn học Xôviết câu chuyện vượt không gian, thời gian chuyển sang tình hình “nhập khẩu” văn chương Việt vào Mỹ những ngày này.
Chẳng là những người bạn Mỹ trên xe vừa rời buổi tọa đàm mang nội dung “Một cái nhìn mới về Việt Nam” do hai trường đại học Saint Benedict và Saint John tổ chức, chủ yếu về đầu tư giáo dục và giao lưu văn hóa giữa hai nước. Trong đó, có một phát biểu gây chú ý, rằng văn chương Việt đương đại là đường dẫn để thâm nhập nước Việt Nam mới, một Việt Nam “hậu nỗi buồn chiến tranh (Post Sorrow of War)”.

Tối hôm đó, trong khi chờ Daphna và mấy người bạn chuẩn bị cơm tối, tôi tham quan ngôi nhà gỗ của cô được xây dựng từ cuối thế kỷ 19. Tôi đã dừng lại khá lâu ở một thư phòng nhỏ nhắn, ấm áp, đầy ắp sách. Sách về các nước Châu Á chiếm riêng một giá, trong đó có một số đầu sách giới thiệu Việt Nam.
Điều đó dễ hiểu vì chủ nhân là một người kinh doanh ngành du lịch. Tôi chủ ý tìm xem có sách văn học không. Cũng đáng kể. Rồi xem có chỗ cho văn học Việt Nam không. Là một con số không, nếu không kể những gì tôi mới tặng chủ nhân cách đây một ngày. Trong khi đó, xếp thành hàng trên giá, gáy dày cộp, là tiểu thuyết Trung Quốc, Nhật Bản.

Từ khá lâu tôi đã biết có những nỗ lực của cá nhân, tổ chức trong việc dịch tác phẩm văn học Việt Nam sang Anh ngữ, xuất bản ở nước ngoài. Còn lúc này, tôi có dịp quan sát (cưỡi ngựa xem hoa thôi) “sức sống” của văn chương Việt trên đất Mỹ. Đến thành phố nào tôi cũng dành thời gian thăm thú các hiệu sách, nơi đẹp đẽ nhất của cuộc-sống-sách, cũng là nơi khách quan nhất về nhu cầu thị trường chữ nghĩa.
Cảm nhận đầu tiên là ngành kinh doanh sách ở Mỹ đã để mắt đến mảng đề tài Việt Nam. Ở các hiệu sách ngẫu nhiên, chúng ta có thể bắt gặp trên giá khá nhiều sách liên quan đến Việt Nam. Chiếm ưu thế vẫn là đề tài ám ảnh người Mỹ: Chiến tranh và hậu quả của nó. Đề tài này thể hiện bằng nhiều loại hình: Lịch sử, hồi ký, sáng tác.
Tiểu thuyết của các nhà văn Mỹ đương đại về đề tài Việt Nam có thể tìm thấy dễ dàng với những bản in lại mới nhất trong năm 2009. Điều này chứng minh cho một con số tôi từng đọc trên báo Mỹ: Gần 500 cuốn tiểu thuyết, truyện ký viết về chiến tranh Việt Nam đã được xuất bản tại Mỹ từ khoảng năm 1970 đến nay.

Ngoài ra, tôi thú vị tìm thấy những cuốn dành mối quan tâm cho một thời đã xa, như The last Emperors of Vietnam: From Tu Duc to Bao Dai (Những hoàng đế cuối cùng của Việt Nam: Từ Tự Đức đến Bảo Đại) của Oscar Chapuis, NXB Greenwood in năm 2000; Death of a Generation: Diem and JFK (Cái chết của một thế hệ: Diệm và Kennedy) của Howard Jones, NXB Đại học Oxford in năm 2003.
Đồng thời đã xuất hiện trên giá những cuốn sách nghiên cứu sâu về một nước Việt Nam thời bình, một nước Việt Nam son trẻ, như Vietnam của Douglas A.Phillips, NXB Đại học South Dakota in năm 2006; Vietnam’s New Order (Trật tự mới Việt Nam) của nhiều tác giả, do Stephanie Balme và Mark Sidel chủ biên, NXB Palgrave Macmillan in năm 2007.
Có cả những bộ sách nghiên cứu khoa học chuyên ngành như Vietnam - A Natural History (Việt Nam - Thiên lịch sử tự nhiên) của Eleanor Jane Stering, Martha Maud Hurley và Lê Đức Minh, NXB Đại học Yale in năm 2006, dày hơn 500 trang, minh họa công phu. Cũng dễ hiểu khi những đầu sách trên được ấn hành bởi hệ thống xuất bản của các trường đại học Mỹ.

Thế còn văn chương Việt đương đại (ở đây chỉ nói đến tác phẩm viết ra trong nước) trên giá sách Mỹ? Vẫn là cảm giác thiếu vắng đến day dứt. Nhất là khi đồng thời phải chứng kiến sự có mặt khá dày dặn và bài bản sách văn học của một số nước Châu Á khác. Đọc lướt qua trang “imprint” (thông tin về tác giả, dịch giả, nhà xuất bản, nơi in...) của các sách này tôi nhận ra mấy điểm đáng ghi sổ tay:
Thứ nhất, một bộ phận nhà văn Ấn Độ, Philippines, Singapore sáng tác trực tiếp bằng tiếng Anh nên bỏ qua khâu chuyển ngữ.
Thứ hai, văn học Trung Quốc, Nhật Bản vốn có lực lượng dịch giả hùng hậu trong nước, lại còn được sự góp sức mạnh mẽ của những dịch giả người Mỹ gốc Hoa, gốc Nhật và của dịch giả người Mỹ chính hiệu.
Thứ ba, một số nhà xuất bản Châu Á tên tuổi - chủ yếu vẫn là Ấn Độ, Philippines, Singapore - in sách văn học bản Anh ngữ ngay trong nước họ, với chất lượng in không kém gì Mỹ, rồi cứ thế “xuất khẩu” qua hệ thống phát hành Mỹ, không bị lệ thuộc vào quyết định của các nhà xuất bản Mỹ, là những quyết định vốn bị ràng buộc bởi tiêu chí lợi nhuận.

Nhìn lại thực trạng “xuất khẩu” văn chương nước nhà, cả ba thế mạnh trên của người, ta đều yếu!

Nhận biết sức vóc mình trên con đường quảng bá văn chương Việt ở xứ người như thế, hẹp và gian nan, mới thấy quý, thấy thương khi bắt gặp một vài tiểu thuyết, tập truyện Việt nằm lẻ loi trên giá hiệu sách Mỹ.
Những ngày này có thể tìm mua tại một số hiệu sách, hoặc đặt mua qua amazon.com, nơi có hẳn một mảng sách với tên gọi gợi cảm Voices from Vietnam (Tiếng nói từ Việt Nam), những cuốn như Love After War (Tình yêu sau chiến tranh), tuyển truyện ngắn Việt Nam đương đại, do hai nhà văn Việt và Mỹ - Hồ Anh Thái và Wayne Karlin chủ biên, Dumb Luck (Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng, Behind the Red Mist (Trong sương hồng hiện ra) của Hồ Anh Thái, Crossing the River (Chảy đi sông ơi) của Nguyễn Huy Thiệp, Against the Flood (Ngược dòng nước lũ) của Ma Văn Kháng, The Stars, The Earth, The River (Những ngôi sao, trái đất, dòng sông) của Lê Minh Khuê...

Chuyến đi chưa đầy một tháng nên tôi không có điều kiện gặp được nhiều người Mỹ có đọc văn chương Việt, ngoài những người từng làm việc chung và một số giáo sư đại học mới tiếp xúc. Cách nhìn của họ cũng khác nhau. Edward O’Connell - nhà đầu tư giáo dục Mỹ, nói ra suy nghĩ của ông: Cá nhân tôi thực ra không muốn nhắc đến chiến tranh Việt Nam. Xấu hổ? Có. Buồn bực? Có.
Gần đây, thay vì tìm đọc sách viết về chiến tranh, tôi muốn thu thập nhiều thông tin hơn về luật pháp, kinh tế, xã hội của một nước Việt Nam mà tôi đang tìm cơ hội đầu tư. Một giáo sư Mỹ ở Trường Đại học Concordia, thành phố Saint Paul - người yêu Việt Nam đến nỗi đặt tên Việt cho mình là Tâm, có cách nghĩ khác: Tôi rất mong chờ khoa Việt học được thành lập ở Đại học Concordia. Khi ấy, sinh viên của tôi có thể tiếp xúc những công trình nghiên cứu Việt Nam.
Trong đó, văn học đương đại Việt Nam sẽ góp phần giúp thế hệ trẻ người Mỹ hiểu người Việt cùng thời hơn, kể cả khi tác phẩm đương đại mô tả quá khứ.

Người dành trọn kỳ nghỉ phép mười ngày để lái xe đưa tôi đi xuyên các bang nước Mỹ là thạc sĩ Hoàng Văn Quang. Trước khi đoàn tụ gia đình ở Mỹ từ năm 1990, Quang đã dịch 5 đầu sách văn học từ Anh sang Việt, in tại Việt Nam. Bây giờ làm nghề chế tạo thiết bị cơ giới hạng nặng, nhưng Quang vẫn ham sách, trên xe lúc nào cũng ném sẵn mấy cuốn văn, triết.
Quang nói: Qua mạng thấy có nhà văn, nhà nghiên cứu trong nước dựa vào mấy bài điểm sách trên báo Mỹ để tán dương truyện ngắn đương đại Việt Nam “ngang tầm thế giới”, lại thấy có nhà văn cãi lại là chưa ngang tầm.
Theo mình, so sánh văn học giữa các dân tộc là rất khó, càng khó khi sự có mặt của văn học mình ở nước ngoài mới ở dạng “chào hàng” và ngược lại, còn rất ít bạn đọc trong nước có điều kiện được lựa chọn cái để đọc, được tiếp xúc trực tiếp văn chương đương đại thế giới. Vậy không có đủ cơ sở để so sánh. Mà trước mắt và quan trọng hơn là, bằng nỗ lực cá nhân cũng như nhà nước, chúng ta dịch và giới thiệu sách hay Việt Nam ra nước ngoài, càng nhiều càng tốt.
Cũng chính Quang đã hé cho tôi một cánh cửa khá bất ngờ về chuyện “xuất khẩu” văn chương Việt trên đất Mỹ, cũng như ngoài Mỹ: Hàng triệu Việt kiều thế hệ trẻ, như mấy đứa con mình chẳng hạn, hầu hết hiện nay không đọc được sách Việt, nói chi đến văn học Việt. Một tủ sách Việt có hệ thống được dịch sang Anh ngữ là nhu cầu tinh thần có thực của hàng triệu gia đình người Việt ở hải ngoại.



Theo LĐ

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác