Văn học chân chính không cần sự "đánh bóng"

Những năm qua, việc xuất bản tác phẩm văn chương của một số nhà văn ở miền nam trước năm 1975 và một số nhà văn là người Việt ở nước ngoài đã trở thành một hiện tượng bình thường trong đời sống văn học nước nhà.

Không khí dân chủ, tinh thần hòa hợp dân tộc cùng với thái độ tôn trọng các sản phẩm văn hóa lành mạnh, phù hợp với sự phát triển... do mọi người Việt Nam sáng tạo ra đã thu hẹp khoảng cách giữa các xu hướng sáng tác văn học từng xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Tuy nhiên gần đây, việc xuất bản tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu lại đưa tới phản ứng khá gay gắt trong dư luận, nhất là sau khi trong một vài bài báo, có người coi việc làm đó là "góp phần khơi thông một dòng văn học vẫn âm thầm chảy", có nhà phê bình lại quảng bá tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu bằng một số phân tích mà dường như ý muốn chủ quan đã che lấp ý thức trách nhiệm của một người làm phê bình đối với công chúng, thậm chí còn viện dẫn việc Dương Nghiễm Mậu có tên trong Từ điển văn học để biện minh cho việc xuất bản...

Từ các động thái trên đây, không thể không đặt ra một câu hỏi rằng, người ta xuất bản và phê bình là vì lợi ích của người đọc hay vì lợi nhuận, vì giá trị văn chương đích thực hay chỉ nhằm thỏa mãn sở thích "nói ngược" với các tiêu chí văn hóa - văn chương đang tồn tại với tư cách là chuẩn mực tinh thần chung của xã hội...?

Ðọc bốn tập sách của Dương Nghiễm Mậu, có thể khẳng định các truyện ngắn trong đó chưa đạt tới tầm mức để có thể coi tác giả của chúng là "một nhà văn xuất sắc, với một lối viết hiện đại... tươi mới về giọng điệu, vẫn sắc bén trong câu chữ, lời văn, vẫn thâm trầm ý tưởng, để khiến đọc vào người đọc phải đối diện với chính mình, từ đó có một khoái cảm tự phân tích, tự nhận thức để thấy ra thân phận và kiếp sống mình... Ông viết không ồn ào thị trường, không thời sự nhất thời, nhưng lặn sâu vào bề trong con người và bề sâu ngôn ngữ, và ma lực ngòi bút ông khiến ai đã đọc thì không thôi ám ảnh" như có người tán tụng.

Trong 44 truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu, những mảnh đời, những kiếp sống nhọc nhằn... được lý giải theo lối "mô phỏng triết lý hiện sinh" một cách khá lộ liễu, nên không có gì là đặc sắc khi bắt gặp trong các tác phẩm một thái độ sống vô hồn lạnh lẽo, những câu trả lời về sự sống chết vô cảm, dửng dưng.

 

Lối văn chương hiện sinh ấy ngày nay đã "quá đát" so với lịch sử, người ta thường hồi nhớ về nó chứ có mấy ai hứng thú tìm đọc như để tiếp xúc với tuyệt tác văn chương mà phải quảng bá rùm beng.

Ðó là chưa nói sống trong một giai đoạn lịch sử đầy biến cố, qua ngòi bút của Dương Nghiễm Mậu, chiến tranh được lý giải như là cội nguồn của sự đày đọa kiếp người, nhưng lại dễ gây nghi ngờ về quan niệm của tác giả, tỷ như nên hiểu thế nào khái niệm "giặc" khi nhà văn này viết: "Có người nói Mỹ nghi ông ta làm mật thám cho giặc" (tr.40, tập Tiếng sáo)? Rồi nữa là hình ảnh của "phía bên kia" (phía cách mạng) thường hiện diện trong tác phẩm qua các trận pháo kích mà: "Mỗi lần như thế dân chúng đem những người bị thương lên cửa trại lính, những lính Mỹ ở đấy họ rất sốt sắng, họ băng bó cho những người bị thương nhẹ", "Người bạn thân từ mặt trận trở về, vết thương nơi khuôn mặt còn băng trắng. - Pháo quá, tao tưởng đã chết, tao tin có hàng mấy ngàn người bị giết. Những trẻ em, những bà già...". Chẳng lẽ khi quyết định cho xuất bản, khi viết phê bình, người ta đã không đọc những dòng này?

Do những điều kiện lịch sử cụ thể, có thể nói rằng, trong gần một thế kỷ qua, văn học Việt Nam đã vận động trong hoàn cảnh khá đặc biệt. Và không có nguyên do nào khác, chính sự chi phối của các xu hướng tư tưởng - chính trị khác nhau xuất hiện trong bối cảnh đất nước bị xâm lược đã làm nảy sinh các xu hướng tư tưởng - nghệ thuật khác nhau.

Trong bối cảnh đó, từ những năm 30 của thế kỷ trước, khuynh hướng văn học cách mạng đã ra đời, từng bước được khẳng định và với các phẩm chất ưu việt của nó, văn học cách mạng đã có vị trí then chốt trong tiến trình phát triển chung của văn học Việt Nam hiện đại.

Bên cạnh đó, với thái độ tiếp cận khách quan về lịch sử, khi đề cập tới văn học Việt Nam, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của những tác phẩm văn học tiến bộ trong giai đoạn 1930 - 1945, không thể không nhắc tới một số tác phẩm văn học tiến bộ xuất bản ở vùng tạm chiếm giai đoạn 1946 - 1954 và ở miền nam trong giai đoạn 1954 - 1975, bởi các tác phẩm này đã góp phần vạch rõ tội ác xâm lược, khẳng định lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, cổ vũ mọi người hướng tới các giá trị nhân văn chân chính...

Vì thế cần phải khẳng định: cùng với văn học cách mạng, các tác phẩm này đã góp phần làm nên diện mạo của văn học Việt Nam trong thế kỷ 20.

Tuy nhiên cũng phải nói rằng, do còn bị chi phối bởi thái độ phiến diện trong thẩm định, do sự tồn tại của quan niệm thiếu khách quan về tính chất phức tạp của văn học, nên ở một vài thời điểm, với một vài tác phẩm, chúng ta chưa có đánh giá đúng mức, đưa tới một số hiểu lầm đáng tiếc, hiện tượng này đã ít nhiều làm ảnh hưởng tới quá trình xây dựng và phát triển văn học.

Từ khi bước vào sự nghiệp đổi mới đến nay, cùng với đổi mới trên các lĩnh vực khác, nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng đã không chỉ được đổi mới về quan niệm, về phương thức tổ chức, lãnh đạo và quản lý, mà các nhà văn còn được tạo điều kiện để sáng tạo, công bố tác phẩm, và chính sự đổi mới đó đã quyết định nền văn học của chúng ta tiếp tục phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đã có nhiều biến đổi.

Ðặc biệt là tinh thần cởi mở cùng ý thức hòa hợp dân tộc còn đưa tới việc in ấn, xuất bản tác phẩm của người Việt Nam đang sinh sống ở ngoài nước hay các tác phẩm có xuất xứ ở miền nam trước năm 1975 như của Nguyễn Mộng Giác, Thuận, Bình Nguyên Lộc, của Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Quynh Trang Cindy Nguyễn..., rồi các công trình nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Khê, Tạ Chí Ðại Trường, Hoàng Ngọc Tuấn,...

 

Tất nhiên về nguyên tắc, việc xuất bản đó phải bảo đảm yêu cầu mang tải các phẩm chất nhân văn, hữu ích đối với sự phát triển của xã hội - con người, có kết luận khoa học nghiêm túc... hay chí ít cũng là các tham vấn khoa học cần thiết đối với giới nghiên cứu. Bởi dù thế nào thì mỗi chế độ chính trị - xã hội vẫn có các nguyên tắc riêng khi xuất bản các ấn phẩm văn hóa, điều này là hiển nhiên, không chỉ ở Việt Nam mà với cả các chế độ chính trị - xã hội khác trên thế giới(1).

Nó cũng hiển nhiên như một sự thật là không phải bất kỳ tác phẩm nào của các nhà văn trong nước cũng có thể được phát hành tại các nhà xuất bản của người Việt ở nước ngoài. Họ chỉ in ấn tác phẩm nào phù hợp với mục đích tư tưởng - nghệ thuật của họ mà thôi. Nên không thể dựa vào thái độ "tôn trọng lịch sử" hay "độ lùi thời gian và hoàn cảnh chính trị xã hội hiện thời của đất nước" để đẩy tới tình trạng vô nguyên tắc, đẩy tới sự xuất hiện của các tác phẩm không phù hợp với yêu cầu của tiến trình văn hóa - văn chương.

Ðồng thời, cần phải lưu ý rằng sự có mặt của một tác giả nào đó trong một cuốn từ điển văn học không phải là biểu hiện của sự vinh danh. Bởi từ điển, với tính cách là sách tra cứu, cung cấp tri thức về một lĩnh vực nào đó, không bao hàm ý nghĩa tôn vinh tác giả, tác phẩm. Bởi người ta có thể tra cứu trong Từ điển Bách khoa Việt Nam tên tuổi của Trần Ích Tắc, của Lê Chiêu Thống... nhưng liệu ai có thể quả quyết đó chính là sự khẳng định và thừa nhận giá trị của các nhân vật này?

Như một tất yếu khách quan, gần một thế kỷ qua, văn học cách mạng đã giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của văn học nước nhà, vì mục đích tối hậu và duy nhất của nó là hướng tới sự phát triển toàn diện của con người, đem các giá trị chân - thiện - mỹ mới đến với xã hội - con người, góp phần nâng cao nhận thức, góp phần giáo dục con người phát triển theo các tiêu chí văn hóa mới...

Và không chỉ có văn học cách mạng, văn học Việt Nam trong thế kỷ 20 còn được làm cho phong phú, sinh động hơn bởi đóng góp của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam tuy không sống và sáng tác dưới chế độ xã hội mới nhưng thế giới tinh thần, khát vọng sáng tạo của họ luôn là các giá trị nhân văn, hướng tới một nền văn chương lành mạnh và lương thiện. Vì thế tác phẩm của họ cũng là tài sản tinh thần của dân tộc, và dòng văn học mà họ theo đuổi có quyền được in ấn, phát hành công khai chứ không "âm thầm chảy"; chỉ có tác phẩm nào không phù hợp với bản chất nhân văn của văn học, không phù hợp với xu thế phát triển tiến bộ của xã hội... sẽ không được lưu giữ trong lịch sử văn học, và nhân dân sẽ lãng quên, vì văn học chân chính không cần sự "đánh bóng"!

Theo Nhân dân

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác