Văn học dân gian xứ Quảng: Truyền thống và cách tân

Quảng Nam, mảnh đất trù phú bên bờ sông Thu, là nơi đã từng in dấu chân của ông cha ta từ 700 năm trước, kể từ sau bước vu quy của Huyền Trân công chúa (1306). Trải qua khoảng thời gian dài bảy thế kỷ, chúng ta còn tồn tại được trên vùng đất lắm phen trở thành nơi đầu sóng ngọn gió này là nhờ biết bao thế hệ đã hy sinh xương máu.

Nhưng điều quan trọng nhất mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng của ông cha chính là cái sức mạnh quật cường, sự nhạy bén trí tuệ để kịp thời chuyển hóa những tư tưởng từ bên ngoài thành cái nội lực tự thân. Đó chính là tính cách của con người xứ Quảng, được kế thừa tính cách của dân tộc; và đó cũng chính là sự ưu việt trong đời sống tinh thần của những người Việt đi mở nước.

Ông cha ta đã xác lập một nhân sinh quan kiện toàn: không bao giờ chỉ trông cậy vào những tiến bộ kỹ thuật, coi đó như là con đường duy nhất dẫn đến sự phát triển, để tới một lúc nào đó phải ngơ ngác nhận ra mình trở thành những nô lệ tự thân, những con người sống và sinh hoạt có điều kiện trong sự vây hãm của máy móc, hoàn toàn đánh mất niềm tin. Ông cha ta cũng không coi cõi nhân gian này như những bào ảnh mong manh, chẳng cần phải hành động làm gì cho nhọc sức; lại càng không hề xem cuộc đời là một trò tiêu khiển hay chỉ là một nơi chốn để hưởng lạc, vì tháng ngày như bóng câu qua cửa sổ. Các lớp tiền nhân đã có những biến giải tưởng như tầm thường mà vô cùng hợp lý, chắc chắn, và luôn tạo đựơc sự quân bình, tự tin khi tiếp nhân xử thế, đó là gửi hết mọi tin yêu vào con cháu. Văn hóa Việt Nam, nhờ vậy là một nền văn hoá thường tồn (permanence). Và trong cuộc sống của chúng ta hôm nay có cả tâm tình, ý chí và nghệ thuật sống của ông cha ta. Hiện tại chứa đầy quá khứ, và là thước đo, là bước chân chuẩn bị đi vào ngày mai. Trong tính chất thường tồn của văn hóa dân tộc ấy, cái cốt lõi vẫn là văn hóa dân gian; trong đó chứa đựng cả đạo lý, tình yêu cuộc sống, niềm tin vào sự tồn tại của những giá trị nhân văn và cả nỗi đam mê các thú vui bình thường của những con người luôn biết dung hợp giữa lạc thú cuộc đời và lý tưởng hướng thiện.

Là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân gian,văn học dân gian trên vùng đất Quảng cũng chứa đựng trong bản thân những yếu tố truyền thống vững bền; đồng thời, cũng xác lập được những sắc thái riêng của một địa bàn cư dân giàu năng lực, có tính cách mạnh mẽ và có khát vọng vươn tới những chân trời tri thức mới. Văn học dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng là bức tranh sinh động phản ánh trung thực dòng chảy liên tục của văn học dân gian Việt Nam.

Về kết cấu, những bài ca ở vùng đất Quảng cũng thường dựa theo cái khung có sẵn. Có những câu thế này: Nước Thổ Hà vừa trong vừa mát/ Đường Vạn Vân lắm cát dễ đi (Hà Bắc); Nước Trịnh Thôn vừa trong vừa mát/ Đường Trịnh Thôn lắm cát dễ đi (Thanh Hóa); Nước Ngọc Sơn vừa trong vừa mát/ Đường Nam Giang lắm cát dễ đi (Nghệ An). Nhưng với cái khung có sẵn ấy, bài ca ở vùng đất Quảng cũng vẫn có phần sáng tạo riêng: Giếng Bình Đào vừa trong vừa mát/ Đường Bình Đào lắm cát dễ đi/  Em ơi má thắm làm chi/ Để anh thương nhớ mấy con trăng ni không về... Theo các nhà nghiên cứu, “Cách sáng tác dựa vào cái khung có sẵn là cách sáng tác truyền miệng phổ biến khắp nước ta… Dù vậy, câu ca dao mới sáng tác vẫn hay. Những tình cảm mới được lồng vào trong những khung chung có tính chất tiêu chuẩn mà mọi người đã thừa nhận làm cho câu cao dao dễ thành “của chung”. Và ta cần hiểu rằng: “Nhân dân sáng tác theo truyền thống và cảm thụ cũng theo truyền thống, một truyền thống có bề dày lịch sử, văn hóa, xã hội và đã được thử thách. Truyền thống trong folklore ổn định và biến đối cùng với bước đi của lịch sử - xã hội, văn hóa”.

Nếu các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã khẳng định rằng, tính chất truyền thống vừa ổn định lại vừa biến đổi cùng với bước đi của lịch sử - xã hội, thì có lẽ câu ca truyền thống tiêu biểu nhất của dất và người xứ Quảng là “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm/ Rượu Hồng đào chưa nhấm đà say”… là một minh chứng rõ nét nhất, có sức thuyết phục nhất. Bài ca này, trong cuốn Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, tập I, xuất bản năm 1983 và tái bản đầu năm 1986, chúng tôi đã công bố 12 dị bản (trong đó có 3 dị bản do Đinh Thị Hựu, cán bộ giảng dạy Đại học Sư phạm Huế sưu tầm). Đến năm 2001, trong cuốn Văn học Dân gian Quảng Nam (miền biển), tập III, chúng tôi lại sưu tầm được thêm 2 dị bản nữa và đã công bố cả 14 dị bản. Đây là một hiện tượng văn học dân gian lạ lùng, độc đáo, chưa từng thấy ở bất cứ địa phương nào khác. Trong cả hai cuốn sách trên, chúng tôi nhận định trong 14 dị bản này thì có 10 dị bản thuộc loại trữ tình và 4 dị bản thuộc loại tự sự lịch sử. Nhưng đồng thời chúng tôi cũng đã nhấn mạnh rằng tính chất trữ tình của bài ca này đã được chuyển hóa thành tính chất tự sự lịch sử, nhưng vẫn không đi ra ngoài mô-típ của một câu cao dao cổ. Đây chính là hình thức vừa ổn định của yếu tố truyền thống vững bền, vừa biến đổi nhờ yếu tố cách tân, để bài ca đi sát với thực tế xã hội và tình trạng lịch sử…

Như vậy, phần đóng góp của văn học dân gian xứ Quảng vào quá trình phát triển của văn học dân gian Việt Nam chính là đã không rời xa truyền thống văn học giàu sức sống của dân tộc, để tới lượt mình, tác động đến sự phát triển của các vùng văn học khác ở phía Nam. Nói một cách hình tượng hơn, từ những công thức truyền thống, văn học dân gian đất Quảng đã có một cuộc vận hành không ngừng nghỉ để biến cải về chất và tăng trưởng lớn về lượng. Và trong quá trình vận hành đó đã tiếp thu những yếu tố tích cực của các vùng văn hóa dân gian khác, như dòng sông mãnh liệt cuộc chảy, không ngừng đón nhận phù sa từ mọi nguồn sông suối khác, cuối cùng vẫn hòa vào với biển cả văn hóa dân tộc, nhưng mạch phù sa nơi cửa biển kia đã kịp làm giàu cho chính sự tồn tại và phát triển của mảnh đất này; từ đó, đã tạo nên hương sắc của vùng văn học dân gian xứ Quảng.

(Theo BQN)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác