Văn nghệ dân gian 2008: Sự chuyển biến về chất

Nếu xét về số lượng, Mùa giải Văn nghệ dân gian 2008 không phải là một vụ mùa bội thu như mùa giải 2007. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là sự chuyển biến mạnh mẽ và tích cực trong chất lượng của các tác phẩm tham dự và đoạt giải. GS.TSKH Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã phát biểu: “Có thể xem sự xuất hiện các công trình nghiên cứu như một dự báo về sự chuyển biến có chất lượng từ công tác sưu tầm sang công tác nghiên cứu của hội viên”.

Văn nghệ dân gian 2008: Sự chuyển biến về chất - ảnh 1

Những con số đáng mừng

Năm 2008, Hội có 78 công trình được đưa vào xét giải, trong đó có 31 công trình thuộc Hội đồng Ngữ văn và lý luận văn nghệ dân gian; 36 công trình thuộc Hội đồng Phong tục, địa chí, hội làng; Hội đồng nghệ thuật trình diễn có 5 công trình và 6 công trình thuộc Hội đồng Tri thức dân gian. Lĩnh vực Nghệ thuật tạo hình năm nay không có công trình dự thi. Như vậy có thể thấy, hai lĩnh vực Ngữ văn và Phong tục vẫn là “mảnh đất màu mỡ” đối với các tác giả. Hội đồng chuyên ngành đã quyết định trao 62 giải, trong đó có 8 giải Nhì, 31 giải Ba, 23 giải Khuyến khích và 8 tặng phẩm. Giải Nhì A duy nhất thuộc về tác giả Hà Đình Tỵ (Yên Bái) với công trình “Khắp thống đẳm” (Hát tiễn hồn-dân tộc Tày).

Trong số công trình dự giải năm nay có 20 công trình sưu tầm, 12 công trình nghiên cứu và 9 công trình thuộc loại địa chí.

Các công trình sưu tầm tập trung vào loại hình nghi lễ như “Khắp thống đẳm”, “Lễ giải hạn cầu an-Tày” hoặc phù chú như “Mùnh” (Bùa yêu-Mường) với dung lượng từ 200 đến 400 trang A4. Nhóm hai là các công trình về truyện cổ, truyện thơ và sử thi như “Phạm Tử-Ngọc Hoa”-Tày, “Lái Khủn Chưởng”-Thái. Nhóm công trình thứ ba gồm hai loại đề tài, trong đó có những công trình cung cấp cái nhìn tổng quan về một vùng văn hóa dân gian như “Văn hóa phi vật thể Lục Ngạn” (Bắc Giang), “Làng cổ Hà Tĩnh”; Loại đề tài thứ hai là về nghệ thuật trình diễn như “Nói thơ-Vè Nam Bộ”, “Kim Nham” (Chèo cổ)… Những công trình sưu tầm đều có ý nghĩa phát hiện, bổ sung cho những công trình đã có.

Chất lượng các công trình nghiên cứu là điểm nhấn của mùa giải 2008. Mười hai công trình nghiên cứu cho một mùa giải là một con số chưa từng có so với những mùa giải trước. Chủ đề của phần lớn công trình loại này tập trung vào việc khảo sát sâu, từ đó tìm hiểu những đặc trưng, những giá trị tiềm ẩn của một hiện tượng, một hình thức văn hóa văn nghệ dân gian nào đó, như “Nghiên cứu cơ bản về Phủ Tây Hồ” hay “Tìm hiểu đồng dao người Việt”… Cũng có một vài công trình đề cập đến các đề tài có tính phổ quát như “Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay”. Chính hiện thực này của mùa giải 2008 đã khiến GS Tô Ngọc Thanh phải thốt lên trong lễ trao giải “Liệu có thể xem sự xuất hiện các công trình nghiên cứu như một dự báo về sự chuyển biến chất lượng từ công tác sưu tầm sang công tác nghiên cứu của hội viên chúng ta không?”.

Mặc dù số lượng các công trình dự giải 2008 không có gì đặc biệt nhưng chất lượng các công trình đã được nâng cao rõ rệt, phản ánh sự tiến bộ về nghề nghiệp của hội viên. Thành phần tác giả dự giải cũng cho một thực tế đáng ghi nhận là ngoài một vài tác giả cao tuổi, số lượng các tác giả tuổi trung niên, trong đó có các tác giả nữ và dân tộc thiểu số đã nhiều hơn trước. Đây là một kết quả đáng mừng, chứng tỏ sự nỗ lực không ngừng của các hội viên trong việc thực hiện kế hoạch “Tầm nhìn 2010”.

“Tầm nhìn 2010” - đã thấy đích!

“Tầm nhìn 2010” là một kế hoạch do Hội Văn nghệ dân gian đề ra, động viên các bậc nghệ nhân cho con cháu ghi lại bằng những phương tiện hiện đại những giá trị vẫn tồn tại trong dân gian, đặc biệt là các loại hình văn học truyền miệng nhằm thống kê vốn liếng của cha ông để lại, xây dựng chương trình phát huy giá trị với mục đích sưu tầm, lưu lại được nhiều nhất các giá trị đó và phát huy chúng ở một mức độ cao nhất.

Nếu như trong buổi lễ tổng kết năm 2006, giáo sư Tô Ngọc Thanh cho rằng đây là một cuộc chạy đua; Năm 2007 ông “sốt ruột” đã chuyển sang từ “nước rút” thì tại buổi tổng kết năm 2008 này, Giáo sư cho biết, kế hoạch đã triển khai được “hòm hòm”. Những người thực hiện đang biên tập để in. Trước mắt có thể hứa hẹn sẽ có một thống kê bước đầu trên cả nước có các hoạt động, phong tục gì? Ở địa phương nào? Đã làm được phần nào trong công tác sưu tầm, ghi chép? Tiếp theo còn phải làm những gì?... Cùng với công tác sưu tầm, nghiên cứu, việc công nhận nghệ nhân dân gian cũng được tiến hành đều đặn và có hiệu quả, riêng năm 2008 đã công nhận 22 nghệ nhân trong nhiều lĩnh vực như nặn tò he, hát Then, hát Dô… Việc truyền dạy các loại hình văn nghệ dân gian cho lớp trẻ cũng được triển khai ở nhiều địa phương, tạo nên những phong trào thực hành các hoạt động văn nghệ dân gian trong lớp trẻ, điển hình như phong trào hát Dô, múa Bài Bông ở Hà Tây. Nhìn vào những việc các hội viên Hội Văn nghệ dân gian đã làm được trong mấy năm qua, lúc này chúng ta thấy rằng không quá sớm để nói: “Tầm nhìn 2010” đã gần về đến đích. Lễ mừng thọ cho 21 cụ tuổi 78-80 của Hội cũng là niềm tri ân của các hội viên đối với những “kho báu dân gian sống”, dù tuổi đã cao vẫn đang còn đầy ham mê đối với các phong tục, tập quán, đời sống văn nghệ dân gian và luôn sẵn lòng truyền dạy, luôn mong muốn truyền dạy được cho thật nhiều lớp trẻ kế cận.

Theo QĐND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác