Về Bảo tàng văn học Việt Nam

Từ rất lâu rồi, trong ký ức của một người đọc văn chương hay nghe (kể, hát...) về tác phẩm, tác giả văn chương, đã có một góc kỷ niệm về những hình tượng văn học, về một lần gặp gỡ với tác giả văn chương hoặc hình dung tưởng tượng về người đó...

Dẫu là người đọc (hay người nghe) chỉ nhằm nhu cầu giải trí, thưởng thức hoặc người đọc (hay người nghe) không chỉ để giải trí, mà còn nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu, biên khảo... thì những kỷ niệm kia nhìn chung, vẫn là thắm tươi và nồng hậu.

Cái hiện tượng bình thường và đã tồn tại dai dẳng kia không cần phải khuyến dụ, đã có trong cuộc đời này. Và từ đó, trong mỗi người đọc xưa nay, đã tự xây đắp tô điểm cho mình một "bảo tàng văn học" với một quy mô và sắc thái riêng nào đó. Ðó là bảo tàng - kỷ niệm - cá nhân.

Phải đến khi xã hội coi trọng nghề văn, người làm ra văn chương có ý thức sâu sắc, đầy đủ và chính xác về công việc sáng tạo của mình, thì từ trong  tư duy của lớp người quản lý mới nảy sinh ý đồ làm bảo tàng văn học. Nói một cách khác: Bảo tàng Văn học ra đời, là một bước tiến chứng tỏ một sự trưởng thành không chỉ của giới văn nhân, mà còn là của toàn xã hội.

Bảo tàng Văn học nhằm mục đích gì?

Có rất nhiều mục đích cao xa và những mục tiêu cụ thể khi chúng ta đặt vấn đề làm Bảo tàng Văn học. Những mục đích, mục tiêu này tùy thuộc vào điều kiện khách quan và chủ quan, tùy thuộc vào vốn liếng và thời điểm tiến hành công việc...

Ở một cái nhìn chung nhất, chúng tôi cho rằng chúng ta làm Bảo tàng Văn học là để:

1- Góp phần tôn vinh nền văn chương  văn học dân tộc, mà nói rõ hơn, là: tôn vinh những giá trị văn học cao đẹp từng được coi là tiêu biểu cho tâm hồn và trí tuệ Việt Nam trên lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật văn chương - nghệ thuật ngôn từ từ xưa đến nay. Trong những giá trị đó có nhiều tác phẩm đã khiến cả dân tộc ta nhắc đến với niềm tự hào, có những tác giả mà tài năng và phẩm hạnh đã được coi là tấm gương tiêu biểu.

2- Góp phần truyền bá những tinh hoa văn học nước nhà, tham gia quá  trình đưa văn chương - như là một món ăn tinh thần quý giá đến với các tầng lớp công chúng, nhất là đối với thế hệ trẻ Việt Nam và cả bạn bè quốc tế.

3- Góp phần thúc đẩy quá trình sáng tạo văn học của nhà văn và của toàn xã hội.

Ðể từng bước đạt được mục đích, mục tiêu trên, trong Bảo tàng Văn học Việt Nam cần có những gì?

1- Như chúng ta từng biết và đã có nhiều lần khẳng định, rằng: nền văn học Việt Nam từ xưa và nhất là ngày nay, là một nền văn học được cấu thành bởi lao động nghệ thuật bền bỉ và hào hứng của rất nhiều thế hệ người viết ở mọi vùng miền, mọi đề tài qua hàng trăm năm thăng trầm của lịch sử chiến đấu và dựng  xây đất nước. Vì thế, trong Bảo tàng Văn học Việt Nam, phải phản ánh được sự thật lịch sử này. Nghĩa là, đến với Bảo tàng Văn học Việt Nam, người ta thấy được sự có mặt những tinh hoa văn học các dân tộc trong đại gia đình  Tổ quốc Việt Nam, người ta được chiêm ngưỡng  những đỉnh cao như Nguyễn Trãi với các tập thơ văn lừng danh của ông, Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ, Nguyễn Ðình Chiểu với nhiều tác phẩm nêu cao đạo lý đạo nghĩa ở đời, Hồ Chí Minh với Nhật ký trong tù và nhiều áng văn chính luận chặt chẽ cùng các truyện ký tài hoa... và còn được bắt gặp ở đây tên tuổi của những tác giả có thể là tuổi đời tuổi nghề chưa cao, thành tựu chưa thật vang dội, nhưng họ đang là những người cần mẫn viết và có đóng góp rất cụ thể cho sự phát triển văn học nước nhà ở địa phương của mình, trong cộng đồng nhỏ của mình.

2- Ra đời từ chính cuộc sống gian lao của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, văn chương văn học Việt Nam có lúc phát triển rực rỡ cùng sự hưng thịnh của đất nước, có lúc không song hành như thế. Sự phát triển của văn chương văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của quy luật thời thế nhân sinh,  và cũng tuân theo những quy luật riêng của một ngành nghệ thuật. Dựng lại quá trình hình thành, phát triển của văn chương văn học   Việt Nam, tất nhiên, cũng là một nhiệm vụ, một nội dung của Bảo tàng Văn học Việt Nam. Bảo tàng Văn học Việt Nam là một sự phác dựng trung thực, cô đúc về tiến trình văn học Việt Nam từ giai đoạn sơ khai - truyền khẩu, trải qua thời trung cổ cho đến ngày hôm nay bằng sự trưng bày nhiều hệ thống hiện vật, tư liệu đã được kiểm định.

3- Ðến với Bảo tàng Văn học Việt Nam, người ta không chỉ chiêm ngưỡng các tinh hoa, các thành tựu... mà còn có thể nhận ra được từ các hiện vật, tài liệu... công phu lao động nghệ thuật và cả cái xu thế phát triển của dòng chủ lưu và những sự giao thoa, hội nhập của văn chương văn học Việt Nam với các nền văn học thế giới từ lâu nay. Sự thực lịch sử văn chương đã cho thấy là: nhờ có mối giao lưu văn học Việt Nam với các nền văn học Trung Hoa, Nga, Pháp, Mỹ la-tinh... mà văn học Việt Nam đã có những thời kỳ phát triển bước ngoặt, nở rộ những tài năng mới. Ở đây, công lao của các nhà dịch thuật, nghiên cứu, biên khảo cùng các cơ quan báo chí, xuất bản là rất đáng trân trọng.

4- Ba nội dung lớn trong Bảo tàng Văn học Việt Nam như vừa nêu vắn tắt ở trên sẽ được thể hiện một cách sinh động, dễ tiếp nhận, gây hứng thú hấp dẫn  bằng một nghệ thuật trưng bày. Nghệ thuật trưng bày này có sự kết hợp có tính toán với các phương tiện kỹ thuật  nghe - nhìn để tận dụng tối đa không gian, khai thác đúng mức sự hiện hữu của các vật thể và tư liệu.

Ðược sự cộng tác nhiệt tình của các nhà văn và thân nhân nhà văn cùng nhiều người yêu quý văn học dân tộc, công việc sưu tầm hiện vật cho Bảo tàng Văn học Việt Nam đã   và đang được thực hiện theo 9 nhóm hiện vật là:

Nhóm 1 - Tư liệu - hiện vật - sách báo... về lịch sử phát triển của chữ viết các dân tộc anh em trong cộng đồng Việt Nam.

Nhóm 2 - Các sách, báo đã in của nhà văn (nhất là những sách, báo có chất lượng cao, được giải thưởng, đánh dấu các mốc, các đề tài, chủ đề văn học lớn); Các bản thảo chưa in của các nhà văn nổi tiếng qua các chặng đường phát triển của văn học dân tộc; Các sổ tay, ghi chép của nhà văn, thư của nhà văn; Các vật dụng liên quan trực tiếp đến lao động nhà văn như: bút, mực, bàn, ghế, giấy, máy đánh chữ... và các vật dụng khác như: xe, gậy, tẩu điếu, kính...

Nhóm 3 - Các bài phê bình tác phẩm, các bài chân dung tác giả văn học.

Nhóm 4 - Các văn kiện của Ðảng nhà nước về văn học; Thư của các nhà hoạt động chính trị, xã hội với các nhà văn; Trò chuyện giữa  công chúng với nhà văn trên báo chí và các sách hoặc thư; Các bài trả lời phỏng vấn của nhà văn.

Nhóm 5 - Các băng ghi âm tiếng nói nhà văn và các lãnh tụ với nhà văn.

Nhóm 6 - Các tranh và ảnh, các bộ phim về nhà văn.

Nhóm 7 - Các sáng tác văn học, các sách nghiên cứu - biên soạn - tuyển chọn... văn học Việt Nam được dịch ra ngôn ngữ nước ngoài; Các tác phẩm của văn học nước ngoài được dịch, xuất bản tại Việt Nam.

Nhóm 8 - Tư liệu - hiện vật - sách báo... về sự hoạt động của các tổ chức văn học từng có ở Việt Nam, về các Ðại hội Nhà văn Việt Nam.

Nhóm 9 - Các vở diễn được dàn dựng, các bộ phim được thực hiện từ các tác phẩm văn học, từ cuộc đời các nhà văn.

Ðất nước và nhân dân sản sinh ra nhà văn và nuôi dưỡng nền văn học. Là con đẻ của đất nước và nhân dân, được lớn lên từ chính cuộc sống đầy gian nan và kỳ vĩ của đấng sinh thành, khi đã lớn lên từ ước vọng thiết tha của dân tộc,  nền văn học Việt Nam sắp tới đây,  sẽ được hội tụ ở ngôi nhà Bảo tàng Văn học Việt Nam, hẳn sẽ là một chứng tích đáng tự hào để chúng ta có thêm sức mà bước tiếp.

Theo Nhân dân

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác