BẾN TRE - Đình Tân Thạch

(Cinet-DL)- Đình Phú Long tọa lạc tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương không chỉ có ý nghĩa to lớn về mặt tín ngưỡng mà còn là một di tích mang đậm giá trị Cách Mạng.
BẾN TRE - Đình Tân Thạch - ảnh 1
Đình Tân Thạch
1. Tên Di sản/ Di tích: Đình Tân Thạch
2. Thời gian:
Năm 1841: Đình được khởi công xây dựng; lúc đó có tên gọi là đình Thạch Hồ
3. Năm công nhận:
Ngày 28/12/2001, Bộ Văn hóa-Thông tin đã ký quyết định số 52/2001/QĐ-BVHTT công nhận Đình Tân Thạch là Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia
4. Vị trí/ Địa hình:
Đình Tân Thạch nằm trên địa bàn ấp 9, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Bến Tre là một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nằm cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông với chiều dài đường biển khoảng 65km và các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Bến Tre có diện tích tự nhiên là 2.315km2 với dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên. Bến Tre được hình thành bởi cù lao An Hoá, cù lao Bảo, cù lao Minh, và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ (gồm sông Tiền dài 83 km, sông Ba Lai 59 km, sông Hàm Luông 71 km, sông Cổ Chiên 82 km). Bến Tre có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao từ 1 – 2 m; rải rác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừng chồi và những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông. Bến Tre có hệ thống kênh rạch chằng chịt, ăn thông với nhau, nối liền với các sông lớn.
5. Thổ nhưỡng:
Đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre khá đa dạng, phong phú, có thể phân thành các nhóm chính: Nhóm đất phù sa (chiếm khoảng 84% diện tích canh tác; Nhóm đất phèn (chiếm khoảng 9,4% diện tích) và Nhóm đất cát (chiếm khoảng 6,8% diện tích).
6. Khí hậu:
Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 đến 2.300 mm, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260C – 270C. Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão lũ, khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm.
7. Dân cư:
Theo thống kê năm 2011, dân số của tỉnh Bến Tre đạt 1.257.800 người, với mật độ dân số 533 người/km2. Dân số nam đạt 616.000 người, dân số nữ đạt 640.900 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 5,2%. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh Bến Tre là 64,5%. Bến Tre là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống như: Kinh, Hoa, Khmer, Tày, Chăm, Gia Rai, Ngái, Ê Đê, Thái. Trong đó người Kinh chiếm tuyệt đại đa số (99% tổng số dân của tỉnh). Sau người Kinh là người Hoa với khoảng 6.088 người vào năm 2005, chiếm 0,47% dân số. Còn lại là các dân tộc khác.
8. Tóm tắt nội dung:
8.1. Kiến trúc nghệ thuật

Ngoại thất
Tổng diện tích khuôn viên đình Tân Thạch rộng hơn 7.600m2, trong đó, diện tích mặt bằng của ngôi đình khoảng 1.250m2.  Đình có cấu trúc hình chữ Tam, với các kiến trúc chính gồm gian Võ ca, Võ quy và Chính điện - được xây dựng liền nhau. Mái đình lợp ngói âm dương, hệ mái trang trí hình lưỡng long tranh châu, cá hóa long và bát tiên.
Cổng tam quan
Cổng tam quan của đình được xây dựng bằng gạch và xi măng, mái lợp ngói, trang trí trên hệ mái là hình hai con rồng với hồ lô bằng sành sứ. Hệ mái được đỡ bởi bốn mảng tường được xây bằng xi măng cốt thép, tạo thành ba lối cửa ra vào gồm cửa chính ở giữa và hai cửa phụ hai bên. Hai bên hệ mái cửa phụ trang trí hai con lân được làm bằng gốm men màu xanh trong tư thế chầu. Hai bên cổng ra vào có đắp nổi hai câu đối, câu thứ nhất ghi: “Cân bằng phong vũ/ mang gió mùa biển cả/ ổn định xã Thạch Hồ”, câu thứ hai: “Trợ sức thiên nhiên/ đem châu thổ sông Tiền/ đắp bồi vùng Rạch Miễu”. Xung quanh tường rào được kè đá xanh, phía trên trang trí chấn song hình con tiện.
BẾN TRE - Đình Tân Thạch - ảnh 2
Cổng tam quan đình
Sân đình
Trước sân đình có bức bình phong (bia) Thần nông bằng đá cao khoảng 3m, chạm nổi hình con Rồng đang bay lượn ở trên, bên dưới là con Hổ, xung quanh là những dải hoa văn hình mây, núi, cây cảnh theo mô-típ trang trí truyền thống “Long bàn Hổ cứ” – ám chỉ nơi đây là vùng đất tốt, ở địa thế Rồng cuộn Hổ ngồi. Hai bên có hai câu đối bằng chữ Hán ghi: “Hổ cư sơn lâm phù xã tắc” và “Long du nguyệt điện tráng sơn hà”. Bên trái của bức bình phong là miếu thờ “Sơn quân”, bên trong thờ Thần Hổ. Bên phải của bức bình phong là miếu thờ thần Thổ địa và thần Hà bá là hai vị thần, một vị cai quản đất đai, một vị cai quản vùng sông nước. Bên trong miếu có bài vị ghi “Long thần Thổ địa, Hà bá thủy quan tôn thần”. Ngoài ra, miếu còn thờ 3 hòn đá, thể hiện tín ngưỡng thờ Neak Tà (tức ông Tà) của người Khmer , thường thấy trong rất nhiều đình miếu ở Nam bộ.
Gian Võ ca
Gian Võ ca của đình gồm ba căn hai chái, là nơi diễn ra hoạt động xây chầu đại bội vào các dịp cúng Kỳ Yên.
Gian Võ quy
Gian Võ quy của đình gồm năm căn, hai chái, có kiến trúc nhà xuyên trính (các thanh xà ngang được nối xuyên qua từng đôi cột cái với nhau).  Võ quy được dùng làm nơi hành văn lễ tế thần. Trong gian Võ quy có đặt một bàn hương án thờ Phật.
Gian Chính điện
Phía trước gian Chính điện, trên bàn thờ bên phải có hai bài vị ghi: “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thần” - thờ cá ông (cá voi) và “Thủy Đức nương nương”, còn bàn thờ bên trái có hai bài vị ghi: “Chúa xứ Thánh Mẫu nương nương” - thờ Bà chúa xứ và “Thái giám Bạch mã mộc trụ ngũ phương tôn thần”. Chính điện là tòa nhà trung tâm của đình, được xây theo kiểu nhà ba căn, hai chái rộng rãi. Giữa nhà chính điện thờ Quốc tổ Hùng Vương, kế đến là tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Gian cuối cùng có khánh thờ thần Thành hoàng được sơn son thiếp vàng, tả ban và hữu ban đều có đặt bàn thờ và khuôn thành vọng thờ tiền hiền, hậu hiền. Ngoài ra, bên cạnh Tả ban có đặt một bàn thờ “Đông trù tư mệnh thủ thần quân”.
Nhà tiền vãng
Nối liền với chính điện là ngôi nhà trù (nhà bếp), tiếp theo là nhà tiền vãng - nơi dùng để thờ các bậc tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ. Nhà tiền vãng mới được xây dựng lại sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Nhà được xây kiên cố, mái lợp ngói vảy cá. Trong nhà tiền vãng có ba khánh thờ, ở giữa có khánh thờ ghi “Tiền vãng trinh linh”.
Nội thất
Hệ thống cột trong đình Tân Thạch được làm bằng gỗ lim, nền lót gạch tàu, các cột, kèo, đòn tay được kết dính với nhau bằng kỹ thuật mộng chốt.
BẾN TRE - Đình Tân Thạch - ảnh 3
Hệ thống cột của đình

Đình có 13 bao lam (cửa võng) được trang trí trên cột chính ở gian Võ ca, Võ quy và Chính điện. Các bao lam này có những niên đại khác nhau do đình đã qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Đôi bao lam ở gian Võ quy bên phải có hàng chữ ghi niên đại “Bính Tý niên mạnh thu Tân Thạch thôn” (tức thôn Tân Thạch làm vào tháng 7 năm Bính Tý 1876). Đôi bao lam ở gian trái có niên đại từ năm 1877. Một đôi bao lam khác ở gian giữa chính điện có niên đại muộn hơn “Tuế thứ Đinh Sửu niên mạnh đông cát nhật tạo” nghĩa là đình được làm vào ngày tốt tháng 9 năm Đinh Sửu năm 1937… Các bao lam được trang trí với các câu đối, chạm lộng các đề tài như: cúc – trĩ, nho - sóc, mai – điểu, tùng – lộc. Đình còn được trang trí với 13 bức hoành phi chạm nổi, sơn son thếp vàng. Nội dung của các bức hoành phi, câu đối trong đình là ca ngợi công đức của thần và thể hiện tấm lòng ngưỡng vọng của người dân từ bao đời nay đối vị thần đã phù trợ, bảo hộ họ trong cuộc sống.
BẾN TRE - Đình Tân Thạch - ảnh 4
Nội thất bên trong

Hiện nay, đình Tân Thạch là nơi còn lưu giữ được nhiều sắc phong nhất và có niên đại lâu đời nhất trong tất cả các ngôi đình trong tỉnh Bến Tre. Trong 6 sắc phong  do các vua triều Nguyễn ban cho đình có 4 sắc phong thời Thiệu Trị ngũ niên tức năm 1845, với hai đợt khác nhau trong năm này, 2 sắc phong thời Tự Đức tam niên năm 1850. Mỗi đợt phong sắc đều có 2 bản, mỗi bản với tên hiệu của 2 vị thần khác nhau
8.2. Lễ hội
Lễ Kỳ Yên ở đình Tân Thạch được tổ chức với quy mô lớn vào mỗi trung tuần tháng 7 Âm lịch hàng năm.
Lan Phương (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
Cổng thông tin điện tử tỉnh Bến Tre;
Trang điện tử của Phòng giáo dục huyện Mỏ Cày

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác