BÌNH ĐỊNH - Chùa Thập Tháp Di Đà

(Cinet-DL)- Chùa Thập Tháp Di Đà nằm trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất của miền Trung, được biết đến bởi những giá trị kiến trúc, văn hóa và lịch sử đặc sắc.
 
BÌNH ĐỊNH - Chùa Thập Tháp Di Đà - ảnh 1
Chùa Thập tháp
1. Tên Di sản/ Di tích: Chùa Thập Tháp Di Đà
2. Thời gian:
- Năm 1665: Hòa thượng người Trung Quốc tên là Nguyên Thiều cho xây dựng một am nhỏ để hoằng dương Phật pháp.
- Năm 1680: Chùa được xây lại khang trang hơn, có tên gọi là A Di Đà Tự
- Năm 1820: Chùa được sắc phong Sắc tứ “Thập Tháp Di Đà tự”. Kể từ đó Chùa được chính thức mang tên Thập tháp Di Đà.
3. Năm công nhận:
Ngày 9/1/1990, Bộ Văn hóa ký quyết định số 34-VH/QĐ công nhận Chùa Thập Tháp là Di tích Lịch sử Văn hóa – Kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia..
4. Vị trí/ Địa hình:
Chùa Thập Tháp nằm trên địa bàn thôn Vạn Thuận, phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, diện tích tự nhiên: 6.025 km², diện tích vùng lãnh hải: 36.000 km². Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, với độ chênh lệch khá lớn (khoảng 1.000m). Các dạng địa hình phổ biến là: Vùng đồi núi và cao nguyên (chiếm 70% diện tích toàn tỉnh); Vùng đồng bằng và Vùng ven biển. Bình Định có khá nhiều sông. Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp. Ngoài ra còn có nhiều hồ nhân tạo.   
5. Thổ nhưỡng:
Bình Định có 9 nhóm, 22 đơn vị và 74 đơn vị đất phụ với đặc điểm phát sinh và sử dụng đa dạng. Đất đồi núi dốc chiếm 62,3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, còn lại là đất ở địa hình bằng, thoải với 32,7%. Diện tích đất có tầng mỏng hơn 50cm chiếm 48%. Các nhóm đất phổ biến và có diện tích lớn hơn cả là đất xám: 425.835 ha (70,4%), đất phù sa 45.634 ha (7,5%), đất tầng mỏng: 22.229 ha (3,6%); đất đỏ 21.313 ha (3,5%), đất gờ lây 15.968 ha (2,6%), đất cát 13.570 ha (2,2%) so với đất tự nhiên toàn tỉnh. Các loại đất thuận lợi cho sản xuất là đất phù sa, đất gờ lây, đất mặn trung bình và ít, đất đỏ, đất xám Feralit; tầng dày hơn 50cm và ở độ dốc < 250, có diện tích 178.015 ha, chiếm 29,4 % đất tự nhiên toàn tỉnh.
6. Khí hậu:
Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 - 26,1°C; tại vùng duyên hải là 27°C. Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 - 27,9% và độ ẩm tương đối 79 – 92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối 79%. Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751mm, cực đại là 2.658mm, cực tiểu là 1.131mm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 – 12; mùa khô kéo dài từ tháng 01 – 8.
7. Dân cư:
Theo số liệu năm 2005, toàn tỉnh có 1.700.400 người, trong đó nam là (821.000 người) chiếm 48,7%, nữ là (879.400 người) chiếm: 51,3%. Dân số ở thành thị là (993.000 người) chiếm 58,2%, nông thôn là (749.400 người) chiếm 42,8%, mật độ dân số là 297 người/km2 và dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng (1.020.000 người) chiếm: 60% dân số toàn tỉnh. Ngoài dân tộc Kinh, còn có các dân tộc khác nhưng chủ yếu là Chăm, Ba Na và Hrê, bao gồm khoảng 2,5 vạn dân.
8. Tóm tắt nội dung:
8.1. Kiến trúc:

Theo truyền thuyết, Chùa Thập Tháp được xây dựng trên nền của 10 ngôi tháp Chăm bị đổ và khi chính thức được xây dựng lại vào năm 1680, chùa đã sử dụng vật liệu chính là từ gạch, đá lấy từ những ngôi tháp kia. Hiện nay phạm vi xung quanh chùa còn rất nhiều dấu vết nền tháp. Đặc biệt còn 3 giếng nước hình vuông (loại giếng cổ phổ biến của người Chăm-pa), xây bằng đá ong cỡ lớn cạnh 2m. Ngoài ra, Chùa đã trải qua nhiều lần tu sửa, xây dựng nhưng vật liệu chỉ dùng toàn loại gạch Chăm.
Trước cổng chùa Thập Tháp có một hồ sen rộng 500m2. Sau lưng chùa là chi lưu sông Kôn, phía Bắc là sông Bàn Khê.
BÌNH ĐỊNH - Chùa Thập Tháp Di Đà - ảnh 2
Hồ sen trước chùa

Chùa được bao quanh bằng lớp tường mới xây dựng lại. Cổng Tam Quan có hai trụ cao và to, trên đỉnh đắp tượng sư tử, phía trên gắn hai chữ “Thập Tháp; hai mặt trong ngoài của trụ đều đề đôi câu đối. Sau cổng là một tấm bình phong, mặt đắp nổi long mã phù đồ, đặt trên bệ chân quỳ.
BÌNH ĐỊNH - Chùa Thập Tháp Di Đà - ảnh 3
Cổng chùa

Kiến trúc của  theo kiểu chữ “Khẩu”, mái lợp ngói âm dương với các khu chính gồm khu chánh điện (có diện tích khoảng 400m2), đông đường (khoảng 150m2), tây đường (khoảng 120m2) và nhà phương trượng (khoảng 130m2). Các khu này nối liền nhau bằng một khoảnh sân trong gọi là “giếng trời”.
Chính điện:
Kết cấu của chính điện chủ yếu là gỗ và vẫn còn lưu giữ nhiều dấu ấn của lần trùng tu năm 1749. Chính điện có mái thẳng, lợp ngói âm dương, trên nóc có lưỡng long tranh châu. Chính điện gồm 5 gian có hành lang bao bọc dài 30 mét, rộng 20 mét, ba gian giữa là điện thờ (Đại Hùng Điện); hai gian phụ hai bên là phòng chúng tăng, được ngăn cách với điện thờ và hành lang trái bởi một vách lụa. Kết cấu bộ sườn gồm 4 hàng cột con, trong đó có 8 cột hàng nhất cao 6 mét, 8 cột hàng nhì cao 5 mét… Các đọan trình (hoành) có cấu tạo kiểu giá chiêng, hai đầu chạm hoa cuộn, ở những điểm đầu kèo, vật kê đồ chạm hình rồng cách điệu, nét tròn đơn, uốn lượng trang nhã. Bụng các đoạn trình ( hoành), xuyên (quá giang), đều chạm hoa văn. Khám thờ chính trong nội điện đặt dọc theo hàng cột nhất cao gần 5 mét, mày khám chạm lưỡng long tranh châu.
Phật điện được bài trí tôn nghiêm, chính giữa thờ tượng Tam Thế Phật, Chuẩn Đề, Ca Diếp, A Nan; khám thờ Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Địa Tạng đặt hai gian hai bên điện Phật; hai vách tả hữu đặt tượng Thập Bát La Lán, tượng Thập Điện Minh Vương, Hộ Pháp, Tổ sư Đạt Ma và Tổ sư Tì Ni Đa Lưu Chi. Hầu hết các tượng thờ đều được tạc vào thời Thiền sư Minh Lý trụ trì (1871-1889).
BÌNH ĐỊNH - Chùa Thập Tháp Di Đà - ảnh 4
Bộ tượng 18 vị La hán
Ở chính giữa chính điện có treo bức hoành phi “Sắc Tứ Thập Tháp Di Đà tự”. Hai bên hành lang đặt Đại hồng chung (đúc năm 1893) và trống lớn.
Phía sau chánh điện có tấm bia ghi bài minh Sắc tứ Thập Tháp Di Đà Tự bi minh do cư sĩ Dương Thanh Tu biên soạn, Hòa thượng Minh Lý lập năm 1876.
Nhà phương trượng:
Khu phương trượng đã được cải taọ và nâng cấp  vào năm quí sửu, Duy Tân 7(1913), xây bằng gạch, lợp ngói âm dương, dàn mái cấu tạo nhiều lớp cao thấp. Đáng chú ý là bộ sườn gỗ và dàn khám thờ có kỷ thuật chạm  trổ lắp ráp rất đẹp. Phương trượng chia làm ba gian, gian giữa là án thờ Hòa thượng Phước Huệ (1869 –1945) đời thứ 40 với bức chân dung toàn thân, hai gian bên là chổ nghỉ cho khách tăng.
Đông đường (giảng đường) và Tây đường (nhà tổ)
Khu Đông đường (bên trái) và Tây đường (bên phải) đối xứng nhau. Đông đường do bị hư hại nặng đã được trùng tư gần như mới hoàn toàn vào năm 1967, là nơi tiếp khách và chổ ở của tăng chúng. Tại đây có bảng gỗ ghi bài “Thập Tháp Tự Chí” do Thị giảng Học sĩ phủ An Nhơn Võ Khắc Triển soạn năm 1928, ghi lại lịch sử khai sáng, quá trình xây dựng và truyền thừa của ngôi tổ đình Thập Tháp.
Tây đường có lối kiến trúc gần giống Nhà phương trượng, mái lợp ngói âm dương, là nơi thờ phụng Sơ tổ khai sơn ( Nguyên Thiều) cùng chư vị kế thừa và phật tử quá cố. Chân dung tổ Nguyên Thiều thờ tại án trước, án sau là chư vị chủ chì kế thừa cùng những người công đức góp phần xây dựng chùa qua các thời kỳ ( tổng cộng có 20 long vị), hai bên thờ vong linh thiện nam tín nữ từ nhiều đời đến nay.
BÌNH ĐỊNH - Chùa Thập Tháp Di Đà - ảnh 5
Vườn tháp trong chùa

8.2. Cổ vật:
Ngoài bốn hạng mục chính trên, ở khu vực phía tây còn có nhà thánh kiến trúc đơn giản thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Quan công, Thập Điện Diên Vương… Phía đông, gắn liền với dãy đông đường là nhà trù (bếp). Khu mộ tháp nằm bên trái chùa bao gồm 21 bảo tháp nhỏ lớn, mang phong cách kiến trúc của nhiều thời kỳ khác nhau. Xưa nhất là tháp đạo Nguyên Thiều Sư (1656 – 1716) và Minh Giác Kỳ Phương( 1682 – 1716). Sau chùa, còn có tháp Bạch Hổ và tháp Hội Đồng
Trong chùa đến nay vẫn còn giữ được nhiều di vật quý. Trong đó, đáng chú ý là đôi câu liễn sơn thếp cao 2,5 mét ghi bài ngự đề của chúa Nguyễn Phúc Chu, đạo hiệu Từ Đế Đạo Nhân cúng cho chùa vào năm Tân  Tỵ (1701), hiện để ở chính điện và tấm hoành sơn thếp kích thước 0,9m x 5mét đề “Thập Tháp Di Đà Tự” do hoà thượng Mật hoằng trụ trì chùa Thiên Mụ trùng khắc vào năm 1821.
BÌNH ĐỊNH - Chùa Thập Tháp Di Đà - ảnh 6
Tấm hoành sơn trên ghi "Thập tháp Di đà tự"
Ngoài ra còn phải kể đến tấm hoành ghi nội dung bài kệ của Hoà Thượng Minh Lý cung tạo năm 1874 và một số lượng lớn tạng kinh khắc gỗ và in giấy (trên 1.500 bảng bản khắc gỗ và 389 bộ kinh giấy.) Một số bộ kinh giá trị như Bộ Đại Tạng Kinh do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ cúng dường còn 1.200 quyển kinh, luật, luận và ngữ lục; bộ kinh cổ làm bằng giấy khổ lớn, chữ to bằng đầu ngón tay út do Thiền sư Nguyên Thiều thỉnh từ Trung Hoa sang lúc phụng mệnh chúa Nguyễn về nước vào cuối thế kỷ XVII và bộ Đại Tạng Kinh Cao Ly và bộ Đại Tạng Kinh Đài Loan…
8.3. Giá trị lịch sử
Vào thời kỳ Tây Sơn, chùa Thập Tháp đã từng được các lãnh tụ nghĩa quân Tây Sơn chọn làm nơi đặt đại bản doanh trong giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa. Trong chùa hiện vẫn có lưu giữ được một số di tích và hiện vật liên quan đến phong trào Tây Sơn.
Hòn đá Chém:
Đây là một phiến đá dài 1,58m, rộng 1,3m, dày 0,38m. Tọa lạc vào vị trí gần cửa Bắc thành Hoàng Đế, ngôi chùa đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử liên quan đến thành Hoàng Đế và phong trào Tây Sơn. Năm 1799 Nguyễn Ánh đem quân đánh Quy Nhơn. Thành Hoàng Đế lúc ấy do tướng Tây Sơn là Lê Văn Thanh chỉ huy bị thất thủ. Chiếm được thành, Nguyễn Ánh ra lệnh chém đầu hết tướng tá Tây Sơn rồi đổi tên là thành Bình Định. Đá chém là một trong những phiến đá mà quân Nguyễn đã dùng để kê thớt gỗ lên chặt đầu quân Tây Sơn. Đá chém vốn ở thành Hoàng Đế nhưng sau  vì sợ oan hồn những người chết chém, dân làng đã đem vào chùa. Hiện nay phiến đá được đặt ở bậc lên xuống, nơi các hòa thượng thường hay qua lại.  
BÌNH ĐỊNH - Chùa Thập Tháp Di Đà - ảnh 7
Hòn đá chém

Dưới thời hoà thượng Huệ Chiểu (1898 –1965), chùa Thập Tháp và cá nhân sự trụ trì đã có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngài từng là thành viên của mặt trận Liên  Việt khu V, từng lãnh đạo giáo hội Bình Định và phật tử đẩy mạnh phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.
 
Lan Phương (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo
Cổng thông tin điện tử tỉnh, Cổng thông tin điện tử thị xã An Nhơn, Dư địa chí Bình Định

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác