BÌNH DƯƠNG - Đình Phú Long

(Cinet-DL)- Đình Phú Long tọa lạc tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương không chỉ có ý nghĩa to lớn về mặt tín ngưỡng mà còn là một di tích mang đậm giá trị Cách Mạng.
BÌNH DƯƠNG - Đình Phú Long - ảnh 1
Đình Phú Long

1. Tên Di sản/ Di tích: Đình Phú Long (Phú Long linh miếu)  
2. Thời gian:
- Trong khoảng từ năm 1822 – 1842: Đình được xây dựng bởi những cư dân người Việt vào Bình Dương lập nghiệp với vật liệu ban đầu chủ yếu là tre gỗ
- Năm 1853: Đình được ban sắc phong dưới triều vua Tự Đức
- Năm 1865: Đình được trùng tu ở quy mô lớn, dùng các vật liệu gạch ngói thay thế cho vật liệu cũ.
- Năm 1935, 1997: Đình tiếp tục được trùng tu ở các quy mô nhỏ hơn3. Năm công nhận:
- Ngày 7/1/1993, Bộ Văn hóa-Thông tin đã ký quyết định số 43 VH/QĐ công nhận chùa Hội Khánh là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia.
3. Năm công nhận:
Ngày 28/12/2001, Bộ Văn hóa-Thông tin đã ký quyết định số 53/QĐ –VHTT công nhận Đình Phú Long là Di tích Lịch sử Văn hóa – Kiến trúc  nghệ thuật cấp quốc.
4. Vị trí/ Địa hình:
Đình Phú Long tọa lạc tại khu 5 ấp Hòa Long, thị trấn Lái Thiêu, huyện Thận An (nay là phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An), tỉnh Bình Dương.
Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao xuống thấp dần từ 10m đến 15m so với mặt biển. Tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km2.
Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam. Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi ... Có một số núi thấp, như núi Châu Thới (huyện Dĩ An), núi Cậu (còn gọi là núi Lấp Vò) ở huyện Dầu Tiếng… và một số đồi thấp.
5. Thổ nhưỡng:
Đất đai Bình Dương đa dạng và phong phú về chủng loại:
+ Đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một.
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, khu vực thị xã Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13.
+ Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An; đất thấp mùn Glây có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối.
6. Khí hậu:
Khí hậu ở Bình Dương là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định: nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dương lịch. Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hương những cơn bão gần.
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26oC-27oC. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2). Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800-2.000mm.
7. Dân cư:
Tính đến năm 2011, toàn tỉnh có 1.691.400 người, mật độ dân số 628 người/km². Trong đó dân số nam đạt 813.600 dân số nữ đạt 877.800 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 14,2‰. Trên địa bàn Bình Dương có khoảng 15 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh, và sau đó là người Hoa, người Khơ Me…
Năm 2010, dân số trong độ tuổi lao động chiếm 76,4% dân số, tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 84%. Lao động nhập cư chiếm hơn 80% tổng số lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trình độ lao động hiện có: Cao đẳng, đại học chiếm 5%; Trung cấp và công nhân kỹ thuật chiếm 11,6%; chưa qua đào tạo chiếm 83,4%.
8. Tóm tắt nội dung:
8.1. Kiến trúc nghệ thuật

Ngoại thất
Tổng diện tích khuôn viên đình Phú Long vào khoảng 1ha, trong đó diện tích xây dựng là 1258m2. Tiền điện có hướng phía Tây Nam, sát bờ sông Sài Gòn. Cổng ngoài của đình sát mặt quốc lộ 13 - trung tâm thị trấn, tiếp theo là 300m đường tráng nhựa dẫn vào cổng trong sát tận sân đình. Hai cổng của đình đều xoay về hướng mặt trời mọc.
BÌNH DƯƠNG - Đình Phú Long - ảnh 2
Cổng đình
BÌNH DƯƠNG - Đình Phú Long - ảnh 3
Mặt quay ra sông Sài Gòn
 
Đình Phú Long rộng khoảng 45m bề ngang và sâu trên 55m, có kết cấu hình chữ tam (三 ) theo lối “trùng thềm điệp ốc”,  lợp ngói âm dương, nền lót gạch hoa. Ngôi chánh điện gồm: tiền, trung và hậu điện. Trên trần nhà, Chánh điện hai bên đầu hồi là hai lỗ tròn có nắp đậy che mưa nắng tạo thành một nóc kín. Tiền điện hình chữ nhật (日) ba gian, hai chái, mái được làm hai lớp. Tiền điện được nối liền với sân khấu ngoài trời. Sân khấu này luôn hướng về bàn thờ Thần do đây là nơi trình diễn tuồng tích, hát xướng phục vụ Thần, đồng thời cũng để lễ tế Thần.
BÌNH DƯƠNG - Đình Phú Long - ảnh 4
Khuôn viên đình

Đông lang và Tây lang có hai cửa trung môn nối liền. Đây là nơi chuẩn bị lễ vật cúng Thần, ngày thường là nơi giải quyết một số công việc của cộng đồng xã thôn.
Nội thất
Đình Phú Long có kiến trúc, trang trí, vật dụng thờ cúng tế lễ rất phong phú và đa dạng, độc đáo nhất là việc sử dụng vật liệu gốm sứ địa phương trong trang trí kiến trúc của đình. Toàn bộ mặt tiền của đình, phần bê tông được khảm bằng các mảnh gốm sứ nhiều màu sắc. Mái võ ca được trang trí bốn con lân đứng hàng ngang hướng về sân đình, hai đầu hồi là hai rồng dao. Trên mái Trung điện, ở giữa có hình nhật nguyệt, đầu hồi là hình Long, Lân, Qui, Phụng. Phần mái hậu điện cũng có các hoa văn cá hóa long, lưỡng long trân châu. Giữa trung điện và chánh điện có một bao lam ghép gốm sứ men màu xanh trang trí các hình Long, Lân cảnh hội Bát tiên, Long hải tướng quân, cá hóa rồng,…
BÌNH DƯƠNG - Đình Phú Long - ảnh 5
Trang trí trên mái đình

Bên trong Chánh điện là hai bộ vi kèo chịu lực bằng gỗ, kết cấu theo kiểu kẻ chuyền, hai hàng cột gồm 6 cây loại gỗ đường kính 40cm. Chính giữa Chánh điện là án thờ sắc thần Thành Hoàng Bổn Cảnh được vua Tự Đức ban tặng (vào ngày 8/1/1853), hai bên thờ Tả Ban và Hữu Ban. Các vị có công với làng với đình được thờ theo thứ tự từng án thờ có lập bài vị. Án thờ được đặt cao nhất là hình một chiếc ghế dựa bằng gỗ hình vuông, chạm thủng hình Mai, Lan, Cúc, Trúc, với long vị đắp nổi (gọi là ngự)
Gian đầu hồi, bên trái đặt bàn thờ Ngũ Hành Nương Nương, bên cạnh đặt một cái mõ dài 1,8m, bên phải đặt bàn thờ ông hổ, bên cạnh có một cái trống để sử dụng vào các dịp cúng tế lễ hội.
Các bàn thờ Tiền hiền, Hậu hiền cũng được thờ phụng. Từ ban công nhìn thẳng vào chánh điện, có hàng lỗ bộ gồm nhiều loại binh khí với bốn cặp hạc đứng trên lưng rùa.
Toàn bộ tiền điện có chín bộ bao lam bằng gỗ được chạm thủng về các đề tài hoa trái như Mai, Lan, Cúc và Lựu, Nho, Chuối để tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở.
Nhà Tây lang hai bên trang trí rồng, giữa là đầu lân, long mã, các con thú và cây quả. Hai bên nhà Đông lang là hai con Phụng, giữa là hình nhật nguyệt, lân, dơi khỉ...
Đình Phú Long được trang trí theo lối cổ lầu, tất cả hoành phi, liễn, câu đối đều được sơn son thếp vàng màu sắc rực rỡ và có nội dung chúc tụng sơn hà xã tắc bền vững dài lâu, xưng tụng công đức của tiền nhân, thần thánh. Cách trang trí chạm trổ các đề tài qua hình tượng các, linh vật tượng trưng tiêu biểu như rồng, phụng, lân, hạc, rùa…
8.2. Giá trị lịch sử - văn hóa
Các hiện vật quý hiện được lưu giữ tại đình Phú Long
- Sắc thần và hộp đựng sắc thần
- Ba án thờ bằng gỗ chạm, lộng
- Hai hàng lỗ bộ cao 0,8m cùng với các loại binh khí: chày, dao, búa, trượng.
- Một bài vị chạm nổi
- Một bài vị sơn son thếp vàng
- Một long vị chữ lộng nổi có mão
- Mười cặp câu đối (liễn) cẩn ốc xa cừ, hoặc sơn son thếp vàng
- Tám hoành phi sơn son thếp vàng
- Hai cặp hạc đứng trên lưng rùa cao 3m
- Hai cặp hạc đứng lưng rùa cao 0,8m
- Một kiệu rước sắc thần
- Ba lư bằng gốm
- Một cái trống
- Một cái mõ
Ngoài ý nghĩa to lớn về mặt tín ngưỡng, đình Phú Long còn là một di tích mang đậm giá trị Cách mạng. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nóc kín trên Chánh điện đã được vận dụng để làm nơi ẩn náu cho các hoạt động của nhiều lớp chiến sỹ Cách mạng tại địa phương.
Hàng năm, dịp lễ cùng Kỳ yên cầu cho quốc thái dân ai, mưa thuận gió hòa, được tổ chức vào ngày 17, 18 tháng 8 âm lịch là lễ hội lớn nhất tại đình Phú Long thu hút sự tham gia đông đảo của người dân địa phương và khách thập phương.
Lan Phương (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo
Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Dương;
Trang điện tử Hội Khoa học lịch sử Bình Dương;
Cuốn "Nam Bộ, đất và người" - Nhiều tác giả;
Cuốn "Sơ thảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian" - Sở VHTT Bình Dương

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác