CẦN THƠ - Chùa Nam Nhã

CẦN THƠ - Chùa Nam Nhã - ảnh 1
Cổng vào chùa
(Cinet-DL) – Chùa Nam Nhã không chỉ đẹp bởi lối kiến trúc, mà còn bởi lịch sử của chùa gắn liền với nhiều hoạt động yêu nước của một số sĩ phu và người dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
1. Di sản/Di tích: Chùa Nam Nhã
2. Thời gian: 1890-1895 Chùa Nam Nhã Đường được xây dựng
1917  Chùa được trùng tu lại
3. Năm công nhận:Ngày 25/1/1991 Bộ Văn hoá – Thông tin ra Quyết định số 154/QĐ công nhận chùa Nam Nhã là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia .
4. Địa hình: Từ trung tâm thành phố Cần Thơ đi theo liên tỉnh lộ Cần Thơ - Long Xuyên khoảng 5 km đến chân cầu Bình Thuỷ, rẽ phải sang con đường tráng xi măng khoảng vài chục mét là đến cổng chùa Nam Nhã Đường. Chùa tọa lạc tại số 612 đường Cách mạng tháng 8, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
Địa hình nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông, ngư nghiệp. Thành phố Cần Thơ có 3 dạng địa hình chính là Địa hình ven sông Hậu hình thành dải đất cao là đê tự nhiên và các cù lao ven sông Hậu.
Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38" - 105050’35" kinh độ Đông và 9055’08" - 10019’38" vĩ độ Bắc, trải dài trên 60 km dọc bờ Tây sông Hậu.
Phía Bắc giáp 2 tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long, với ranh giới là sông Hậu
Phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu.
Phía Đông giáp tỉnh Sóc Trăng
Phía Tây giáp 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang
Thành phố Cần thơ nằm trong vùng Trung - Hạ và ở vị trí trung tâm châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá dày do nằm cạnh sông Lớn. Cao độ trung bình khoảng 1,00 – 2,00m dốc  từ đất giồng  ven  sông Hậu, Bên cạnh đó, thành phố còn có các  cồn  và  cù  lao  trên  sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù  lao Tân Lập. Sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng (từ Đông Bắc sang Tây Nam). Do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá dày.
Địa mạo, địa hình, địa chất của thành phố bao gồm 3 dạng: đê tự nhiên ven sông Hậu, đồng lũ nữa mở và đồng bằng châu thổ. Cao trình phổ biến từ +0,8-1,0m, thấp dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Địa bàn được hình thành chủ yếu từ quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long.
5. Thổ nhưỡng: Đất đai ở Cần Thơ tương đối màu mỡ do được bồi đắp thường xuyên của sông Hậu và các sông khác. Diện tích đất phù sa có trên 14,6 vạn ha, chiếm 49,6% diện tích tự nhiên, hình thành một vùng rộng lớn, trải dài từ Thốt Nốt qua Ô Môn đến thành phố Cần Thơ.
Địa bàn được hình thành chủ yếu qua quá  trình bồi  lắng  trầm  tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50m có hai loại trầm tích: Holocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ).
Ngoài ra Cần Thơ còn một số loại đất khác, trong đó có đất nhiễm mặn ít, đất nhiễm phèn nhưng không nhiễm mặn. Nhìn chung thổ nhưỡng Cần Thơ rất thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp đa ngành với nhiều loại cây trồng và vật nuôi.
6. Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới - gió mùa. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28ºC, Cần Thơ có khí hậu điều hoà dễ chịu, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh. Mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11,
Số giờ nắng trung bình cả năm : 2.249,2h.
Lượng mưa  trung bình năm: 1600 mm  (năm 2000 khoảng 1.911, năm 2004 khoảng 1.416mm).
Độ ẩm trung bình năm: 82% - 87% (thay đổi theo các năm).
Gió có 2 hướng chính: Hướng Đông Bắc: từ tháng 12 đến tháng 4 (mùa khô). Hướng Tây Nam:  từ  tháng 5 đến  tháng 10  (mùa mưa), Tốc độ gió bình quân 1,8 m/s.  Ít bão nhưng thường có giông, lốc vào mùa mưa .
Chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lợi thế về nền nhiệt độ, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm
Nhưng mùa mưa thường đi kèm với ngập lũ ảnh hưởng tới khoảng 50% diện tích toàn thành phố ; mùa khô thường đi kèm với việc thiếu nước tưới, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt, nhất  là khu vực bị ảnh hưởng của mặn, phèn  làm  tăng  thêm tính thời vụ cũng.
7. Dân cư: Cần Thơ là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc khác nhau như người Khmer, Việt sống ở các quận Ninh Kiều, Thốt Nôt…người Hoa gốc Quảng Đông sống tập trung ở quận Ninh Kiều và huyện Phong Điền
Dân số toàn Thành phố Cần Thơ tính đến năm 2011 đạt gần 1.200.300 người, mật độ dân số đạt 852 người/km². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 791.800 người, dân số sống tại nông thôn đạt 408.500 người. Dân số nam đạt 600.100 người, trong khi đó nữ đạt 600.200 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,2 ‰
8. Tóm tắt nội dung: Kiến trúc
Chùa Nam Nhã tên chữ Hán là Nam Nhã Đường được xây dựng từ năm 1890 đến 1895 và trùng tu lại năm 1917. Ngoài vẻ đẹp cổ kính của ngôi chùa trên 100 năm tuổi mà còn gắn liền với phong trào yêu nước của các sĩ phu Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.
Nội thất
Chánh điện là một ngôi nhà gạch kiên cố lợp ngói âm dương, trên có hình lưỡng long tranh châu. Đặc biệt mặt tiền chánh điện có kiến trúc Á – Âu kết hợp hồi đầu thế kỷ 20.
CẦN THƠ - Chùa Nam Nhã - ảnh 2
CẦN THƠ - Chùa Nam Nhã - ảnh 3
CẦN THƠ - Chùa Nam Nhã - ảnh 4
Một vài hình ảnh bên trong chùa

Bên trong chánh điện, ở khu trung tâm được bày trí rất trang nghiêm là nơi đặt bàn thờ Tam giáo Thánh nhân (có ba pho tượng thờ bằng đồng là Đức Phật Thích Ca, Đức Khổng Tử và Đức Lão Tử) thể hiện tôn chỉ Tam giáo đồng nguyên. Tam giáo bao gồm Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo. Tam giáo đồng nguyên là ba nền tôn giáo đều do cùng một gốc mà ra. Đối diện là nơi thờ Trấn đàn Hộ pháp Bùi Hữu Sanh và nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa. 2 bên thờ Lịch Đại Tổ Sư, Quan Thánh Đế Quân và người lập chùa là cụ Nguyễn Giác Nguyên. Có một điểm đặc biệt là từ ngoài cửa chính nhìn vào phía tay trái ngang với bàn thờ Quan Thánh Đế Quân là một bàn thờ trên bàn có đặt một tấm kiếng soi mặt lớn. Khi các thiện nam tín nữ đến tụng kinh niệm Phật đều quỳ trước tấm kiếng nầy. Ðược biết tấm kiếng này một mặt dùng để nhắc tín đồ phải luôn hồi quang phản chiếu, phản ánh cái chân tâm của mình; mặt khác giúp cho người đứng quay lưng ra ngoài phát hiện kịp thời kẻ lạ mặt để cảnh giác ở mỗi lần họp kín trong thời kỳ chống Pháp. Hai bên tiền điện có hai bàn hương án đặt bài vị của các vị sư trụ trì.
Ngoại thất
Chùa Nam Nhã tọa lạc trong một khuôn viên khá rộng, và có nhiều cây xanh, thoáng mát. Cổng chùa xây bằng gạch cổ, lợp ngói ta, vững chãi bề thế. Hai bên cổng có hai câu liễn đối lấy hai chữ đầu là chữ Nam và chữ Nhã. Câu bên phải đề là “Nam địa độ nguyên nhân, bát nhã cầm thinh thông giác lộ”, câu bên trái ghi là “Nhã đình chiêu thiện khách, bồ đề thụ ảnh cái thiền môn”. Tạm dịch: Nam địa độ nguyên nhân, tiếng đàn Bát Nhã thông cõi giác. Nhã đình mời thiện khách, bóng mát bồ đề phủ cửa thiền. Các liễn đối trong chùa cũng có nội dung vừa dạy đạo vừa dạy đời, khơi gợi lòng yêu nước, nghĩa tình dân tộc.
Trải dài ra tận bờ sông Bình Thuỷ là một khu vườn lớn bao quanh sân chùa; giữa vườn là hòn non bộ cao trên 2m được đặt trong một bồn nước trong xanh xây bằng gạch tầu đỏ sẩm. Trong vườn trồng nhiều cây tùng, cây trắc và các cây cổ thụ khác. Đan xen dưới những gốc cây này là những cây kiểng quý giá, tuổi ngót 100 năm được cắt uốn rất công phu tạo cảnh quan an bỉnh thoát tục, kết hợp với hòn non bộ cao trên 2m nằm ở giữa sân.
Toạ lạc trong một khuôn viên rộng lớn, chung quanh sân rộng là chánh điện gồm 5 căn, mỗi căn đều có 4 cột bê tông chống đỡ 3 vòm bán nguyệt, vòm giữa lớn, 2 vòm hai bên nhỏ hơn. Các hoa văn, hoạ tiết được tô đắp rất công phu làm tăng thêm phần duyên dáng, sắc sảo. Sau chính điện là một hành lang dài có hai căn phòng tiếp khách quý. Bên phải và bên trái chùa là 2 dãy nhà lợp ngói gọi là Đông Lan đường (còn gọi là Cần đạo đường) dùng cho nam giới và Tây Lan đường (còn gọi là Khôn đạo đường) dùng cho nữ giới ăn thông với nhà bếp.
Sau chính điện là cả một vườn cây ăn trái, xanh tốt quanh năm, mùa nào quả ấy, tiêu biểu cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Ngôi chùa là nơi thường lui tới của các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Cường Để, Nguyễn Hào Vĩnh... là trụ sở chính của phong trào Đông Du (1907-1940) do cụ Phan Bội Châu khởi xướng. Tại đây, nhiều cuộc bình thơ, họa thơ đã được tổ chức và xuất hiện nhiều áng văn thơ yêu nước, có nội dung đòi độc lập dân tộc, dân chủ, dân quyền.
Chùa Nam Nhã có cuốn sách Văn phẩm Đạo Nam kinh thời kỳ này bị Pháp liệt vào loại sách cấm, nó đã đề cao vai trò học vấn, chống ngu muội, chống mê tín, đề cao tiến bộ khoa học kỹ thuật của văn minh loài người. Có những bài diễn ca như:
 "Văn minh ta phải học khôn,
Theo người Anh, Pháp, theo gương Hoa Kỳ.
Trăm nghề học, học chi cũng được,
Học thiên văn rồi học địa dư,
Học toán pháp, học binh thư,
Canh nông học sách, lập thư viện đường".
Chùa duy trì lối sống giản dị, chủ trương ăn chay, không cao đầu, không mặc nâu sồng, mặc áo miễn là trang nghiêm và kín đáo. Chùa chỉ có một cái chuông để thỉnh báo cho thiện nam tín nữ trước khi lễ. Đến chùa Nam Nhã nếu chú ý du khách sẽ nhận thấy Đạo Minh Sư chưng dĩa trái cây gồm năm thứ trái cây và thức ăn cũng gồm năm món chay để tượng trưng cho ngũ hành. Trang phục của nam nữ tín đồ chùa Nam Nhã từ Phật tử cho đến các bậc Lão Sư, Cô Thái chỉ toàn là màu đen, từ khăn áo cho đến quần và dép cũng đen.
Chùa Nam Nhã không chỉ có vẻ đẹp của kiến trúc thanh nhã,  khung cảnh tĩnh mịch giúp thân tâm an lạc mà ở đây còn là mà nơi đây còn gợi nhớ lại.
Nguyễn  Nga tổng hợp
Nguồn tài liêu tham khảo:
http://cantho.gov.vn
vi.wikipedia.org
http://canthopromotion.vn
http://cantho.edu.vn
http://mdec.vn
vietbao.vn
www.thesaigontimes.vn/105066/Nam-Nha-Duong.html
tinhtam.vn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác