ĐÀ NẴNG – Di tích K20

ĐÀ NẴNG – Di tích K20 - ảnh 1
Di tích K20  (Nguồn Internet)
(Cinet- DL) – Di tích K20 là một trong những căn cứ cách mạng quan trọng của thành phố Đà Nẵng trong chiến tranh với hơn 3 nghìn dân, rộng 3km².
1.Tên Di sản/Di tích: Di tích K20
2.Thời gian: Khu di tích K20 là khu căn cứ độc đáo nằm giữa lòng địch tồn tại từ năm 1964.
3.Năm công nhận: Ngày 24 tháng 9 năm 2010 Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di tích K20 là di tích Lịch sử cấp Quốc gia.
4.Địa hình: Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông. Vùng đất liền nằm ở 15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông. Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15045’ đến 17015’ vĩ độ Bắc, 1110 đến 1130  kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam.
Diện tích tự nhiên của Đà Nẵng là 1.255,53 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 213,05 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.042,48 km2.
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố.
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh Quảng Nam.
Ở khu vực cửa sông Hàn và sông Cu Đê địa hình đáy biển bị phức tạp và tạo ra một số bãi cạn, trũng ngầm (lòng sông).Khu vực cửa vịnh ra ngoài khơi địa hình nhìn chung là nghiêng thoải về phía đông bắc. Khoảng cách các đường đẳng sâu khá đều đặn .
Hình thái địa hình các đảo tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc của địa hình ám tiêu san hô vùng nhiệt đới có cấu tạo ba phần khác nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi triều (thềm san hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng. Đa số các đảo nổi có độ cao dưới 10 m.
5.Thổ nhưỡng: Diện tích thành phố Đà Nẵng là 1.283,24 km2 với các loại đất: cồn cát, đất ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng, đất thung lũng và đất xói mòn trơ sỏi đá. Quan trọng là đất phù sa thích hợp với sản xuất nông nghiệp và đất đỏ vàng thích hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và bố trí hạ tầng kỹ thuật.
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố.
Vùng biển Đà Nẵng có trữ lượng hải sản lớn, hàng năm khai thác trung bình đạt trên 40 nghìn tấn. Thành phố cũng có hơn 670 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, có điều kiện tốt để phát triển vùng nuôi cá nước ngọt tại các xã thuộc huyện Hòa Vang.
6.Khí hậu: Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc là khí hậu cận nhiệt đới và miền Nam là khí hậu nhiệt đới xavan, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình từ 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18-23 °C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C.
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 85,67 - 87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình từ 76,67 - 77,33%.
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm/năm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 550 - 1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình từ 23-40 mm/tháng.
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng. Mỗi năm, Đà Nẵng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ một đến hai cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới.
Thời gian nắng ở quần đảo Hoàng Sa dao động trong khoảng từ 2.400 đến 2.600 giờ/năm. Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình ở vùng biển quần đảo là 22°-24 °C trong tháng 1, tăng dần và đạt cực đại trung bình 28.5°-29 °C trong tháng 6 và tháng 7. Chế độ gió vùng quần đảo Hoàng Sa phức tạp và thể hiện ảnh hưởng của địa hình lục địa Việt Nam và Trung Quốc. Gió tây nam chiếm ưu thế vào mùa hè; gió đông bắc chiếm ưu thế trong mùa đông. Lượng mưa trung bình năm ở Hoàng Sa là khoảng 1.200-1.600 mm. Độ ẩm tương đối trung bình 80-85% và hầu như không biến động nhiều theo mùa.
7.Dân cư: Dân số trung bình của Đà Nẵng năm 1997 là 672,468 người, đến năm 2010 là 926.018 người, đạt tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 1997 - 2010 là 2,4%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng dân số bình quân của cả nước trong cùng giai đoạn là 1,2%/năm; trong đó tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố trong cả giai đoạn 1997 - 2010 là 12,470/00.
Trên địa bàn thành phố có trên 37 dân tộc và người nước ngoài cùng chung sống. Trong đó, nhiều nhất là dân tộc Kinh với 883.343 người, người Hoa đông thứ hai với 1.684 người, dân tộc Cơ Tu có 950 người, cùng các dân tộc ít người khác như dân tộc Tày với 224 người, Ê Đê với 222 người, Mường có 183 người, Gia Rai có 154 người...ít nhât là các dân tộc Chơ Ro, Hà Nhì, Si La và Ơ Đu chỉ có 1 người.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn toàn thành phố có chín tôn giáo khác nhau, chiếm 164.195 người.
8. Nội dung:
Khu di tích lịch sử cách mạng K20 nằm trên địa bàn khối phố Đa Mặn, phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn. K20 là một trong những căn cứ cách mạng quan trọng của thành phố Đà Nẵng trong chiến tranh. Khu di tích là tên do Quận ủy Quận III đặt để làm mật hiệu liên lạc nhằm tránh sự nhòm ngó của bọn mật thám, tay sai. quân dân nơi đây cứ đánh địch như từ trên trời rơi xuống, dưới đất chui lên làm giặc không kịp trở tay nhiều lần khiếp vía, mà phải thốt lên rằng “vùng đất quỷ thần”.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, K20 là vùng đệm để bộ đội, du kích ta làm bàn đạp tấn công vào các căn cứ của Mỹ- ngụy, lập nhiều chiến công oanh liệt, tạo nhiều tiếng vang lớn trên chiến trường khu 5, gây hoang mang cho địch góp phần đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.
Sau khi chiếm giữ Đà Nẵng năm 1954, Mỹ Ngụy Xác định K20 là địa bàn xung yếu,nằm sát bên sông  Cổ Cò là địa điểm trọng yếu cả của ta và địch. Bộ đội muốn tập kết vũ khí, lực lượng, tiến đánh sân bay Nước Mặn của địch cần phải tiếp cận với làng vì vậy địch tăng cường các lực lượng ngày đêm lùng sục đàn áp rất ác liệt nhằm cô lập làng. Và đã xây dựng nhiều đồn bót quanh Đa Mặn, hình thành bộ máy kìm kẹp nhân dân, ngăn cản lực lượng cách mạng ngay từ bên ngoài vào thành phố. Nhưng Chúng không thể ngờ làng đã có một hệ thống địa đạo nuôi giấu bộ đội ngay dưới lòng đất, ngày đêm âm thầm chờ thời cơ giải phóng thành phố.
Năm 1962 nhân dân Đá Mặn đã tổ chức được một lực lượng du kích hùng mạnh tham gia làm nhiệm vụ “diệt ác, phá kìm”.
Làng Đá Mặn với chỉ hơn 3 nghìn dân, rộng 3km² có gần 30 đội viên nòng cốt làm nhiệm vụ tiêu diệt ác ôn, tay sai. Những tên có nợ máu với nhân dân sớm được xếp vào “sổ tử” của quân dân Đá Mặn. Chỉ trong một thời gian ngắn sau khi phong trào diệt ác phá kìm được Quân ủy Quận III phát động, đội quân này đã tiêu diệt được 12 tên ác ôn, phá hủy hàng chục ấp chiến lược của Mỹ-ngụy. Đá Mặn trở thành điểm “đỏ” trong các trận càn quét của địch.
Năm 1968 Quận uỷ Quận III do đồng chí Đặng Hồng Vân đã hướng dẫn cho người dân mô hình đào hầm bí mật, tạo thành một hệ thống hầm chằng chịt trong làng để nuôi giấu cán bộ cách mạng. Hàng trăm hộ dân tích cực ngày đêm dào hầm, tạo thành một hệ thống chặt chẽ. Hàng trăm hộ dân tích cực ngày đêm đào hầm, tạo thành một hệ thống chặt chẽ, có tới 158 căn hầm bí mật. Mỗi hầm như thế nuôi bốn đến năm cán bộ cách mạng. Mặc dù kẻ địch mở rất nhiều đợt truy quét trong làng để tiêu diệt lực lượng nòng cốt nhưng chúng không tài nào phát hiện được. Hầm được đào ở khắp nơi trong nhà, dưới gường ngủ, ngoài vườn, ngoài hiên… tạo thành một thành lỹ vững chắc. Đá Mặn đã làm nên một trận địa cách mạng ngay trong lòng đất trong thời gian đó.
Các căn hầm được nhân dân làm rất công phu. Miệng hầm và lối đi vào rất hẹp nhưng bên trong lại rộng đủ để cán bộ cách mạng sinh hoạt hằng ngày. Ngoài miệng hầm chính còn được làm thêm miệng hầm giả. Nếu có tay sai chỉ điểm, nhân dân sẽ đập vỡ miệng hầm giả làm gạch, đá rơi xuống bịt miệng hầm chính, vừa đánh lừa địch vừa báo hiệu cho bộ đội trốn thoát ra ngoài.
Những chiến công oanh liệt, những tấm gương chiến đấu kiên cường, bất khuất của quân và dân căn cứ cách mạng K20 đã góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên đại thắng mùa xuân 1975. Ngày 24 tháng 9 năm 2010 Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di tích K20 là di tích Lịch sử cấp Quốc gia.

Nguyễn Nga tổng hợp
Nguồn tài liệu tham khảo
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0_N%E1%BA%B5ng
http://www.danang.gov.vn/portal/page/portal/danang/chinhquyen/gioi_thieu/tong_quan_da_nang
http://dailyvemaybaygiarenhat1.blogspot.com/2014/04/net-co-kinh-o-thanh-ien-hai.html
http://e-cadao.com/lichsu/Thanhdienhai.htm
http://www.dulichdanang.biz.vn/diem-du-lich/thanh-dien-hai
http://www.thamhiemvietnam.com/Danh-lam-thang-canh/326/Di-tich-K20.html

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác