ĐÀ NẴNG – Đình Tuý Loan

ĐÀ NẴNG – Đình Tuý Loan - ảnh 1
Đình Tuý Loan (Nguồn Internet)
(Cinet-DL)- Với lối kiến trúc tiêu biểu đình miền Trung, Đình làng cổ Tuý Loan đẹp như một bức tranh thủy mặc với dòng sông, bến nước, cây đa và đồng lúa ngào ngạt hương thơm.
1. Di sản/Di tích: Đình Tuý Loan
2.Thời gian: Đình làng Túy Loan được xây dựng vào năm Thành Thái thứ nhất 1889
3.Năm công nhận: Ngày 4 tháng 1 năm 1999 Bộ Văn hoá – Thông tin đã ký Quyết định số 01/1999/QĐ/BVHTT công nhận Đình làng Tuý Loan là di tích cấp Quốc Gia.
4.Địa hình: Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông. Vùng đất liền nằm ở 15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông. Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15045’ đến 17015’ vĩ độ Bắc, 1110 đến 1130  kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam.
Diện tích tự nhiên của Đà Nẵng là 1.255,53 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 213,05 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.042,48 km2.
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố.
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh Quảng Nam.
Ở khu vực cửa sông Hàn và sông Cu Đê địa hình đáy biển bị phức tạp và tạo ra một số bãi cạn, trũng ngầm (lòng sông).Khu vực cửa vịnh ra ngoài khơi địa hình nhìn chung là nghiêng thoải về phía đông bắc. Khoảng cách các đường đẳng sâu khá đều đặn .
Hình thái địa hình các đảo tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc của địa hình ám tiêu san hô vùng nhiệt đới có cấu tạo ba phần khác nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi triều (thềm san hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng. Đa số các đảo nổi có độ cao dưới 10 m.
5.Thổ nhưỡng: Diện tích thành phố Đà Nẵng là 1.283,24 km2 với các loại đất: cồn cát, đất ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng, đất thung lũng và đất xói mòn trơ sỏi đá. Quan trọng là đất phù sa thích hợp với sản xuất nông nghiệp và đất đỏ vàng thích hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và bố trí hạ tầng kỹ thuật.
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố.
Vùng biển Đà Nẵng có trữ lượng hải sản lớn, hàng năm khai thác trung bình đạt trên 40 nghìn tấn. Thành phố cũng có hơn 670 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, có điều kiện tốt để phát triển vùng nuôi cá nước ngọt tại các xã thuộc huyện Hòa Vang.
6.Khí hậu: Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc là khí hậu cận nhiệt đới và miền Nam là khí hậu nhiệt đới xavan, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình từ 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18-23 °C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C.
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 85,67 - 87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình từ 76,67 - 77,33%.
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm/năm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 550 - 1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình từ 23-40 mm/tháng.
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng. Mỗi năm, Đà Nẵng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ một đến hai cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới.
Thời gian nắng ở quần đảo Hoàng Sa dao động trong khoảng từ 2.400 đến 2.600 giờ/năm. Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình ở vùng biển quần đảo là 22°-24 °C trong tháng 1, tăng dần và đạt cực đại trung bình 28.5°-29 °C trong tháng 6 và tháng 7. Chế độ gió vùng quần đảo Hoàng Sa phức tạp và thể hiện ảnh hưởng của địa hình lục địa Việt Nam và Trung Quốc. Gió tây nam chiếm ưu thế vào mùa hè; gió đông bắc chiếm ưu thế trong mùa đông. Lượng mưa trung bình năm ở Hoàng Sa là khoảng 1.200-1.600 mm. Độ ẩm tương đối trung bình 80-85% và hầu như không biến động nhiều theo mùa.
7.Dân cư: Dân số trung bình của Đà Nẵng năm 1997 là 672,468 người, đến năm 2010 là 926.018 người, đạt tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 1997 - 2010 là 2,4%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng dân số bình quân của cả nước trong cùng giai đoạn là 1,2%/năm; trong đó tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố trong cả giai đoạn 1997 - 2010 là 12,470/00.
Trên địa bàn thành phố có trên 37 dân tộc và người nước ngoài cùng chung sống. Trong đó, nhiều nhất là dân tộc Kinh với 883.343 người, người Hoa đông thứ hai với 1.684 người, dân tộc Cơ Tu có 950 người, cùng các dân tộc ít người khác như dân tộc Tày với 224 người, Ê Đê với 222 người, Mường có 183 người, Gia Rai có 154 người...ít nhât là các dân tộc Chơ Ro, Hà Nhì, Si La và Ơ Đuchỉ có 1 người.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn toàn thành phố có chín tôn giáo khác nhau, chiếm 164.195 người.
8. Nội dung:
* Kiến Trúc
Đình làng Tuý Loan được xây ở vị trí trung tâm, nằm cạnh dòng sông Tuý Loan uốn khúc cùng những bãi bồi quanh năm xanh màu cây trái, đình Túy Loan mộc mạc nhưng thơ mộng với nét kiến trúc độc đáo riêng.
Nội thất
Đình chia làm 3 gian 2 chái, phần hậu tẩm rộng 2,4m, dài 2,7m gồm 4 hàng cột bằng gỗ mít, mỗi hàng có 6 cột cao từ 2,5 đến 4,5m. Chính điện rộng 3,1m, dài 2,7m.  Trên các cột, kèo đều khắc hình hoa lá cách điệu, hoa văn mây cuộn… Nơi thờ có nội tẩm, hậu tẩm, tả ban, hữu ban. Gian giữa còn có bàn thờ hội đồng cao hơn các bàn thờ khác, trên bàn có cặp hạc đứng chầu, hai bên có hai dãy lỗ bộ. Trên nội tẩm có một khán thờ bằng gỗ nơi để thờ các vị thần đình. Toàn bộ cửa đình được làm bằng gỗ mít và kiền kiền.
Nét độc đáo và khác biết của đình Tuý Loan so với các ngôi đình khác của làng quê Việt Nam là vẫn còn lưu giữ 25 sắc phong thần, sắc xa nhất đời Minh Mạng (1826), sắc gần nhất đời vua Khải Định (1924).
Ngoại thất
Toàn bộ đình và nhà thờ chư tộc phái toạ lạc trên diện tích trên 110m² trong khuôn viên rộng hơn 8.000m²(16 sào), thoáng đãng, hướng quay ra sông, nhìn về thế núi, sát đường lớn và đặc biệt có cây đa cổ thụ cành lá xum xuê.
Văn bia đặt trong đình còn có bài ký của Tam giáp tiến sĩ Nguyễn Khuê người huyện Thanh Trì (Hà Nội) ghi lại việc lập đình. Bài ký có đoạn: “Đình gồm một tòa chính tẩm, một tòa tiền đường đều làm bằng gỗ quý và lợp ngói, Trước sân có xây trụ biểu, bình phong trông rất xán lạn. Ngoài ra còn xây một ngôi từ đường ở bên trái để làm chỗ thờ các vị tiền hiền".
Đình Tuý Loan là một công trình có giá trị điển hình về mặt kiến trúc bao gồm tiền đường, chính điện và hậu tẩm được nối liền liên tục từ trước ra sau. Tiền đường có kiểu kết cấu hỗn hợp, vừa có liên kết rường, vừa có liên kết kèo. Mặt trước của tiền đường, ở hai bức tường ngăn đều có đắp vẽ, bên tả hình rồng, bên hữu là hình hổ. Trên thân các cột đều có câu đối. Phần giữa của các vì, tức liên kết giữa hai cột cái (cột nhất) là liên kết rường theo kiểu thức chồng rường giả thủ. Từ hai cột cái tỏa về hai phía trước và sau là các thanh kèo nối với các cột quân tạo. Phía đầu hồi, từ cột cái tỏa ra các kèo đấm, quyết để tạo thành hai chái như các công trình có vì kèo truyền thống.
Bước qua cổng tam quan là đến các trụ biểu đứng trước bình phong, được xây theo kiểu cuốn thư, cao 3m, rộng 2m. Mặt trước đắp nổi hình long mã. Mặt trong đắp nổi hình con lân. Tất cả được lắp ghép bằng nghệ thuật sành sứ.
ĐÀ NẴNG – Đình Tuý Loan - ảnh 2
Bức bình phong (Nguồn Internet)

Mái đình lợp ngói âm dương, tường xây bằng gạch, trên mái trang trí lưỡng long chầu nguyệt, hai đầu mái đắp hình rồng uốn lượn được ghép bằng sành sứ.
Không những có kiến trúc độc đáo vào thời kỳ chống Pháp và Mỹ - Diệm đình làng Tuý Loan làm trụ sở bài phong phản đế, cùng tổng An Phước kéo về huyện Hoà Vang cướp chính quyền Pháp - Nhật. Trung đoàn thông tin sử dụng đình làm nhà kho, làm căn cứ đóng quân do ông Nguyễn Văn Lang làm Trung đoàn trưởng. Là nơi chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm lấy đình làng Tuý Loan Đà Nẵng làm nơi cải huấn “tố cộng”.
Ngày nay, Đã hơn một thế kỷ trôi qua, đình làng vẫn còn gần như nguyên vẹn, trang nghiêm, trầm mặc dưới bóng đa cổ thụ và giữa bao các rặng tre làng. Ngày 4 tháng 1 năm 1999 Bộ Văn hoá – Thông tin đã ký Quyết định công nhận Đình Tuý Loan là di tích cấp Quốc Gia.
ĐÀ NẴNG – Đình Tuý Loan - ảnh 3
ĐÀ NẴNG – Đình Tuý Loan - ảnh 4
ĐÀ NẴNG – Đình Tuý Loan - ảnh 5
ĐÀ NẴNG – Đình Tuý Loan - ảnh 6
Đình Tuý Loan (Nguồn Internet)
 
Nguyễn Nga tổng hợp
Nguồn tài liệu tham khảo

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0_N%E1%BA%B5ng
http://www.danang.gov.vn/portal/page/portal/danang/chinhquyen/gioi_thieu/tong_quan_da_nang
http://www.danangtourism.gov.vn/portal/page/portal/dulich/gioi_thieu1/tiem_nang_du_lich?p_pers_id=&p_folder_id=417081&p_main_news_id=420028&p_year_sel
http://danang.vietccr.vn/xem-tong-quan/thanh-pho-da-nang-default.html
http://www.danang.gov.vn/portal/page/portal/danang/chuyen_de/dl/qg/tl
http://www.hoavang.danang.gov.vn/Default.aspx?tabid=b27d19de-c42e-404f-bb66-ff7e9bc4b88b&mid=3f3644dd-d8f7-4d75-8b03-0056c3e3e0fa&itemid=2815&page=Detail
http://khamphavietnam.vn/van-hoa/le-hoi-dinh-lang-tuy-loan-da-nang/
http://www.vietnamtourism.com/index.php/tourism/items/783
http://www.dulichvietnam.com.vn/viet-nam/da-nang/di-tich-lich-su-dinh-tuy-loan-o-da-nang.html
http://caibatvang.com/tu-van-du-lich/lang-co-tuy-loan-da-nang-coi-nguon-cha-ong--hqci.html

 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác