ĐÀ NẴNG – Lăng Mộ Ông Ích Khiêm

ĐÀ NẴNG – Lăng Mộ Ông Ích Khiêm - ảnh 1
Khu lăng mộ (Nguồn Internet)
(Cinet - DL) – Ông Ích Khiêm nổi tiếng là người thông minh, chính trực, là một vị tướng khẳng khái và mưu lược, ông có công trong việc cầm quân bảo vệ Đà Nẵng khi thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược nước ta.
1. Di sản/Di tích: Lăng Mộ Ông Ích Khiêm
2. Thời gian: Mộ Ông Ích Khiêm được xây dựng năm 1938.
3. Năm công nhận: Ngày 12 tháng 7 năm 2001 Bộ Văn hoá – Thông tin ra quyết định số 38/2001/QĐ-BVHTT đã công nhận Mộ Ông Ích Khiêm là di tích Lịch sử cấp Quốc gia.
4. Địa hình: Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông. Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam.
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố.
Ở khu vực cửa sông Hàn và sông Cu Đê địa hình đáy biển bị phức tạp và tạo ra một số bãi cạn, trũng ngầm (lòng sông).Khu vực cửa vịnh ra ngoài khơi địa hình nhìn chung là nghiêng thoải về phía đông bắc. Khoảng cách các đường đẳng sâu khá đều đặn .
Hình thái địa hình các đảo tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc của địa hình ám tiêu san hô vùng nhiệt đới có cấu tạo ba phần khác nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi triều (thềm san hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng. Đa số các đảo nổi có độ cao dưới 10 m.
5. Thổ nhưỡng: Diện tích thành phố Đà Nẵng là 1.283,24 km2 với các loại đất: cồn cát, đất ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng, đất thung lũng và đất xói mòn trơ sỏi đá. Quan trọng là đất phù sa thích hợp với sản xuất nông nghiệp và đất đỏ vàng thích hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và bố trí hạ tầng kỹ thuật.
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố.
6. Khí hậu: Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc là khí hậu cận nhiệt đới và miền Nam là khí hậu nhiệt đới xavan, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình từ 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18-23 °C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C.
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 85,67 - 87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình từ 76,67 - 77,33%.
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm/năm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 550 - 1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình từ 23-40 mm/tháng.
7. Dân cư: Dân số trung bình của Đà Nẵng năm 1997 là 672,468 người, đến năm 2010 là 926.018 người, đạt tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 1997 - 2010 là 2,4%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng dân số bình quân của cả nước trong cùng giai đoạn là 1,2%/năm; trong đó tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố trong cả giai đoạn 1997 - 2010 là 12,470/00.
Trên địa bàn thành phố có trên 37 dân tộc và người nước ngoài cùng chung sống. Trong đó, nhiều nhất là dân tộc Kinh với 883.343 người, người Hoa đông thứ hai với 1.684 người, dân tộc Cơ Tu có 950 người, cùng các dân tộc ít người khác như dân tộc Tày với 224 người, Ê Đê với 222 người, Mường có 183 người, Gia Rai có 154 người...ít nhât là các dân tộc Chơ Ro, Hà Nhì, Si LaƠ Đu chỉ có 1 người.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn toàn thành phố có chín tôn giáo khác nhau, chiếm 164.195 người.
8. Tóm tắt nội dung: Lăng mộ danh nhân Ông Ích Khiêm hiện toạ lạc tại nghĩa trang xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 10km về phía tây - nam.
Ông Ích Khiêm tự là Mục Chi, sinh ngày 21 tháng 12 năm Mậu Tý, 1829 tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là làng Phong Lệ Bắc, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang. Ông thi đậu cử nhân năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) và làm quan dưới triều vua Tự Đức. Nổi tiếng là người thông minh, chính trực, khảng khái, là một vị tướng khẳng khái và mưu lược.
Ngày 1 tháng 9 năm 1858 khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nổ súng tấn công Đà Nẵng ông có công trong việc cầm quân bảo vệ Đà Nẵng. Thời kỳ này ông ở dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, ông đã lo củng cố các đồn trại như đồn Nhất ở đèo Hải Vân, đồn Liên Trì, Phong Lệ và đắp lũy từ Hải Châu đến Phước Ninh…
Tháng 6 (âm lịch) năm 1884, hay tin vua Kiến Phúc mất đột ngột, lúc này Ông Ích Khiêm đang ở nhà lao Bình Thuận đã nhịn đói 4 ngày, viết di chúc rồi uống thuốc độc tự vẫn. Trong di chúc có câu: “Vua (bị) nhục, thì thần phải chết... (Nay) ta lấy tháng 7 (âm lịch), ngày 19 làm ngày bài tử (ngày chết) vậy”. Năm ấy, ông 55 tuổi.
Ngày 19/ 7/ 1884 Ông mất tại Bình Thuận. Ông được con trai là Ông Ích Thiện đưa thi hài về quê và mai táng tại làng Phong Lệ. Đến năm Bảo Đại thứ 13 (1938) thi hài ông được cải táng về Gò Mô hiện nay.
Ngôi mộ được xây theo hình bát giác, trong ngôi mộ của Ông Ích Khiêm có đôi câu đối cho thấy một con người tài ba, nhân cách: Công lớn ba lần đền ơn nước Lòng trung gan dạ mạnh hơn thành.
Mộ có chiều dài từ cổng vào là 13,8m; chiều rộng 6,1m; tường bao xung quanh mộ cao 0,72m. Nấm mộ có chiều dài 4,75m; rộng 3,5m; cao 0,35m. Phía trước mộ có nhà bia, bên trong đặt một tấm bia bằng đá cẩm thạch cao 0,83m; rộng 0,54m được trang trí hình rồng, phụng và hoa lá.
Nhà bia có ghi:
" Hoàng Triều - Hiển tổ Binh bộ tả thị lang, tấn phong Kiên trung Nam linh mộ.
Bảo Đại thập tam niên, tứ nguyệt, kiết nhật."
Nghĩa là:
" Triều Nguyễn - ông cha chức là Tả thị lang Binh bộ, tước là Kiên trung Nam.
Năm Bảo Đại thứ 13, tháng 4 ngày tốt."
Ông Ích Khiêm được coi là thần đồng văn chương, danh tướng trận mạc, cuộc đời ông là một chuỗi thăng trầm của những chiến công và bản án. Cuối cùng, vị “Kiêu Dũng nam” kết thúc cuộc đời trong lao tù, nhưng tài năng, phẩm giá kiên trung của ông vẫn còn được ghi dấu trong lịch sử và sự ca tụng của người đời. Lăng mộ danh nhân Ông Ích Khiêm được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích Quốc gia vào ngày 12/7/2001.
 
ĐÀ NẴNG – Lăng Mộ Ông Ích Khiêm - ảnh 2
ĐÀ NẴNG – Lăng Mộ Ông Ích Khiêm - ảnh 3
ĐÀ NẴNG – Lăng Mộ Ông Ích Khiêm - ảnh 4
(Nguồn Internet)

 
Nguyễn Nga (Tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0_N%E1%BA%B5ng
http://www.danang.gov.vn/portal/page/portal/danang/chinhquyen/gioi_thieu/tong_quan_da_nang
http://www.danangtourism.gov.vn/portal/page/portal/dulich/gioi_thieu1/tiem_nang_du_lich?p_pers_id=&p_folder_id=417081&p_main_news_id=420028&p_year_sel
http://baotanglichsu.vn/portal/vi/Tin-tuc/Nhan-vat-lich-su/2014/01/3A923D10/

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác