ĐÀ NẴNG - Thành Điện Hải

ĐÀ NẴNG - Thành Điện Hải - ảnh 1
Thành Điện Hải là một đồn lũy quan trọng trong
cuộc kháng chiến chống Pháp
(Cinet-DL) – Thành Điện Hải gắn liền với cuộc chiến tranh chống Pháp của người dân Đà Nẵng và nhân dân ta nói chung. Đây cũng là một trong những đồn lũy quan trọng, góp phần đẩy lui cuộc tấn công của thực dân Pháp những năm 1858 – 1860.
1. Di sản/Di tích: Thành Điện Hải
2. Thời gian: Thành Điện Hải được xây dựng lần đầu tiên dưới thời Gia Long thứ 12 năm 1813
3. Năm công nhận: Ngày 16 tháng 11 năm 1988 Bộ Văn hoá – Thông tin ra Quyết định số 1288-VH/QĐ công nhận Thành Điện Hải là di tích Lịch sử cấp Quốc gia.
4. Địa hình: Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông. Vùng đất liền nằm ở 15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông. Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15045’ đến 17015’ vĩ độ Bắc, 1110 đến 1130  kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam.
Diện tích tự nhiên của Đà Nẵng là 1.255,53 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 213,05 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.042,48 km2.
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố.
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh Quảng Nam.
Ở khu vực cửa sông Hàn và sông Cu Đê địa hình đáy biển bị phức tạp và tạo ra một số bãi cạn, trũng ngầm (lòng sông).Khu vực cửa vịnh ra ngoài khơi địa hình nhìn chung là nghiêng thoải về phía đông bắc. Khoảng cách các đường đẳng sâu khá đều đặn .
Hình thái địa hình các đảo tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc của địa hình ám tiêu san hô vùng nhiệt đới có cấu tạo ba phần khác nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi triều (thềm san hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng. Đa số các đảo nổi có độ cao dưới 10 m
5. Thổ nhưỡng: Diện tích thành phố Đà Nẵng là 1.283,24 km2 với các loại đất: cồn cát, đất ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng, đất thung lũng và đất xói mòn trơ sỏi đá. Quan trọng là đất phù sa thích hợp với sản xuất nông nghiệp và đất đỏ vàng thích hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và bố trí hạ tầng kỹ thuật.
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố.
Vùng biển Đà Nẵng có trữ lượng hải sản lớn, hàng năm khai thác trung bình đạt trên 40 nghìn tấn. Thành phố cũng có hơn 670 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, có điều kiện tốt để phát triển vùng nuôi cá nước ngọt tại các xã thuộc huyện Hòa Vang.
6. Khí hậu: Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc là khí hậu cận nhiệt đới và miền Nam là khí hậu nhiệt đới xavan, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình từ 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18-23 °C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C.
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 85,67 - 87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình từ 76,67 - 77,33%.
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm/năm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 550 - 1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình từ 23-40 mm/tháng.
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng. Mỗi năm, Đà Nẵng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ một đến hai cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới.
Thời gian nắng ở quần đảo Hoàng Sa dao động trong khoảng từ 2.400 đến 2.600 giờ/năm. Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình ở vùng biển quần đảo là 22°-24 °C trong tháng 1, tăng dần và đạt cực đại trung bình 28.5°-29 °C trong tháng 6 và tháng 7. Chế độ gió vùng quần đảo Hoàng Sa phức tạp và thể hiện ảnh hưởng của địa hình lục địa Việt Nam và Trung Quốc. Gió tây nam chiếm ưu thế vào mùa hè; gió đông bắc chiếm ưu thế trong mùa đông. Lượng mưa trung bình năm ở Hoàng Sa là khoảng 1.200-1.600 mm. Độ ẩm tương đối trung bình 80-85% và hầu như không biến động nhiều theo mùa.
7. Dân cư: Dân số trung bình của Đà Nẵng năm 1997 là 672,468 người, đến năm 2010 là 926.018 người, đạt tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 1997 - 2010 là 2,4%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng dân số bình quân của cả nước trong cùng giai đoạn là 1,2%/năm; trong đó tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố trong cả giai đoạn 1997 - 2010 là 12,470/00.
Trên địa bàn thành phố có trên 37 dân tộc và người nước ngoài cùng chung sống. Trong đó, nhiều nhất là dân tộc Kinh với 883.343 người, người Hoa đông thứ hai với 1.684 người, dân tộc Cơ Tu có 950 người, cùng các dân tộc ít người khác như dân tộc Tày với 224 người, Ê Đê với 222 người, Mường có 183 người, Gia Rai có 154 người...ít nhât là các dân tộc Chơ Ro, Hà Nhì, Si LaƠ Đu chỉ có 1 người.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn toàn thành phố có chín tôn giáo khác nhau, chiếm 164.195 người.
8. Tóm tắt nội dung: Thành Điện Hải trước là đồn Điện Hải được xây dựng lần đầu tiên dưới thời Gia Long thứ 12 năm 1813 nằm ở tả ngạn sông Hàn. Năm 1823 Minh Mạng thứ 4 cho dời đồn Điện Hải vào bên trong đất liền, trên một gò đất cao, được xây bằng gạch và đến năm 1835 Minh Mạng thứ 15, đồn được đổi tên là thành Điện Hải.
Thành Điện Hải là một dấu ấn ghi nhớ truyền thống đấu tranh chống Pháp của nhân dân Đà Nẵng và nhân dân cả nước, quyết tâm giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ lãnh thổ. Đây cũng là đồn lũy quan trọng góp phần đánh bại cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Đà Nẵng những năm 1858 – 1860. Thành được xây bằng gạch theo đề án thiết kế kiểu Vauban, hình vuông. Trong thành có hành cung, kỳ đà, các cơ sở chứa lương thực, đạn dược, thuốc súng và được trang bị 30 ụ súng đại bác cỡ lớn.
ĐÀ NẴNG - Thành Điện Hải - ảnh 2
ĐÀ NẴNG - Thành Điện Hải - ảnh 3
ĐÀ NẴNG - Thành Điện Hải - ảnh 4
Một vài hiện vât và công trình còn lại của Thành Điện Hải cho đến nay.

Thành Điện Hải được mở rộng vào năm 1847 Thiệu Trị thứ 7, với chu vi 556m, cao hơn 5m, chung quanh là hào sâu 3m. Thành có 2 cửa, một cửa mở về phía Nam (cửa chính), một cửa mở về phía Đông. Hiện nay tường thành phía Tây, Đông và các góc tương đối còn nguyên vẹn, còn cửa thành phía Nam đã mất và phía Bắc đã hư hại. Di tích đang được trùng tu, gia cố, phục hồi lại nguyên trạng.
Để ghi nhớ một giai đoạn lịch sử hào hùng của thành phố tượng đài uy nghi của Tướng quân Nguyễn Tri Phương đã được dựng tại đây.
Ngày 12/4/2008, công trình nâng cấp, tu bổ, tôn tạo Di tích lịch sử thành Điện Hải, các công nhân đã phát hiện một khẩu thần công nằm sâu dưới lòng đất. Súng thần công được bố trí trên các ụ súng, quay mặt ra phía biển sẵn sàng nghênh chiến với tàu địch. Khẩu thần công này có chiều dài 2,8m, đường kính phần đầu 23cm và phần đuôi 42cm. Gần 200 năm trước, những khẩu thần công này cùng với đội quân triều Nguyễn, dưới sự chỉ huy của danh tướng Nguyễn Tri Phương, đánh lui hàng chục đợt tấn công của quân Pháp ngay tại cửa sông Hàn.
Những khẩu thần công đã nằm im lặng ở đây hơn 1,5 thế kỷ, hầu hết đã bị gỉ sét, phần tai hai bên bị gãy, nhưng thân súng thì hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Chúng được đúc bằng sắt, gang hoặc bằng đồng, khẩu to nhất nặng đến hơn 3 tấn, khẩu nhỏ cũng khoảng hơn 1 tấn. Những khẩu thần công ở thành Điện Hải chính là những chứng tích vô cùng quý giá để những thế hệ người dân tự hào về mảnh đất cửa biển. Những khẩu súng này chính là minh chứng vô cùng quý báu để những người dân Đà Nẵng tự hào với lòng dũng cảm, ý chí ngoan cường về mảnh đất quê hướng mình.
Hơn một trăm năm đã trôi qua, thành Điện Hải vẫn tồn tại với thời gian, vẫn im lìm nằm bên đường Trần Phú như một chứng tích lịch sử thầm nhắc nhở mọi người hãy nhớ về những năm tháng đau thương nhưng anh dũng của nhân dân thành phố Đà Nẵng trong cuộc chiến chống xâm lược bảo vệ quê hương, đất nước.

Nguyễn Nga tổng hợp
Nguồn tài liệu tham khảo:
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0_N%E1%BA%B5ng
http://www.danang.gov.vn/portal/page/portal/danang/chinhquyen/gioi_thieu/tong_quan_da_nang
http://www.danangtourism.gov.vn/portal/page/portal/dulich/gioi_thieu1/tiem_nang_du_lich?p_pers_id=&p_folder_id=417081&p_main_news_id=420028&p_year_sel
http://dailyvemaybaygiarenhat1.blogspot.com/2014/04/net-co-kinh-o-thanh-ien-hai.html
http://e-cadao.com/lichsu/Thanhdienhai.htm
http://www.dulichdanang.biz.vn/diem-du-lich/thanh-dien-hai
http://wikimapia.org/614857/vi/Th%C3%A0nh-%C4%90i%E1%BB%87n-H%E1%BA%A3i

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác