ĐẮK LẮK – Nhà đày Buôn Ma Thuột

ĐẮK LẮK – Nhà đày Buôn Ma Thuột - ảnh 1
Cổng nhà đày Buôn Ma Thuột (Nguồn Internet)
(Cinet-DL) - Nhà đày Buôn Ma Thuột là nơi giam giữ nhiều chiến sỹ yêu nước, là một trong những nơi ươm mầm cho hạt giống cách mạng ở Đăk Lăk.
1. Tên Di tích/Di sản: Nhà đày Buôn Ma Thuột
2. Thời gian: Nhà đàyBuôn Ma Thuột do thực dân Pháp thiết lập trong thời kỳ 1930 - 1931
3. Năm công nhận: Ngày 10 tháng 7 năm 1980 Bộ Văn hoá – Thông tin ra Quyết định số 92-VHTT/QĐ công nhận Nhà đày Buôn Ma thuột là di tích Lịch sử cấp Quốc gia.
4. Địa Hình: Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần từ đông nam sang tây bắc và rất đa dạng: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính.
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107028'57" đến 108059'37" độ kinh Đông và từ 1209'45"  đến 13025'06" độ vĩ Bắc, có độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km.
-    Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai
-    Phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà
-    Phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông
-    Phía Tây giáp Campuchia.
5. Thổ Nhưỡng: Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen.
Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá) thích hợp với cây công nghiệp và cây lấy gỗ. Đặc biệt là cây cà phê, cao su, thuận lợi cho việc phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày và đây là một thế mạnh của tỉnh.. Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng 90 km theo hướng đông bắc - tây nam và rộng khoảng 70 km. Phía bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn 300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi.
- Nhóm đất phù sa (Fuvisols): Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất..
- Nhóm đất Gley (Gleysols):
Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lắk, Krông Ana và Krông Bông.
- Nhóm đất xám (Acrisols): Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Đắk Lắk, phân bố ở hầu hết các huyện.
- Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan).
Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao... rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu... và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk.
6. Khí Hậu: Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà.
Thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưamùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió tây nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm. Riêng vùng phía đông do chịu ảnh hưởng của đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió đông bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng, lượng mưa không đáng kể. Lượng mưa trung bình nhiều năm toàn tỉnh đạt từ 1600–1800 mm.
Nhìn chung khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm dần theo độ cao: vùng dưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 – 800 m khí hậu nóng ẩm và trên 800 m khí hậu mát.
7. Dân cư: Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2012  đạt 1.796.666 người, mật độ dân số đạt hơn 137 người/km².
Dân số tỉnh phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana. Các huyện có mật độ dân số thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, Ea Hleo v.v…
Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống 47 dân tộc, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng. Trong đó, người Kinh chiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Thái, Tày, Nùng... chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh.
8. Tóm tắt nội dung: Khu di tích lịch sử nhà đày Buôn Ma Thuột là địa điểm chứa nhiều chứng tích về tội ác của bọn Đế quốc thực dân mà nhà đày còn là trường đào tạo và là điểm rèn luyện cho những chiến sĩ kiên cường của cách mạng nước nhà. Là nơi đày biệt xứ và giam giữ tù nhân trong những điều kiện khắc nghiệt. Không những bị giam cầm, cùm kẹp, bị đánh đập dã man, tù nhân còn phải đi lao dịch khổ sai làm nhà tù, mở đường chiến lược, xây dựng nhà cửa, cầu cống, doanh trại cho quân đội, làm vườn, trồng cây cho bọn cầm quyền. Ngoài việc tận dụng sức lực của tù nhân vào mục đích kinh tế, chúng hành hạ họ cả về vật chất lẫn tinh thần, làm cho tù nhân kiệt lực mà rời rã ý chí đấu tranh, từ bỏ lý tưởng cách mạng.
Nhà đày Buôn Ma Thuột vào những năm 30 của thế kỷ trước, nơi đây là rừng rậm âm u với không khí ẩm thấp và độc địa đến nỗi nhiều tù nhân ở nơi khác đến không thể thích nghi được với thời tiết nơi này nên đã mắc bệnh hiểm nghèo. Nhà đày Buôn Ma Thuột được xây dựng với quy mô kiên cố trên một mảnh đất hình vuông, trên diện tích gần 2 hecta, với 4 bức tường cao dày bao bọc xung quanh cao 4m dầy 40cm, 4 góc đều có vọng gác và có lính canh 24/24 giờ, có điện chiếu sáng vào ban đêm.
Nhà đày bao gồm 6 dãy lao tập thể giam giữ tù nhân, bên cạnh cổng chính cửa hướng ra phía Nam là một dãy xà lim giam giữ tù chính trị thực dân Pháp là nguy hiểm. Ngoài ra còn có một số hạng mục phục vụ cho việc cai trị như nhà xưởng, bàn giấy, nhà kho và bếp ăn, nhà quản ngục, bệnh xá... Bao quanh là bốn bức tường cao, có dây thép gai ở trên. Đây là kiểu thiết kế theo mô tuýp cổ điển của thực dân Pháp. Cách bố trí nhà đày khép kín vừa tận dụng được mặt phẳng, vừa kiểm soát được tù nhân một cách hiệu quả nhất.
 
ĐẮK LẮK – Nhà đày Buôn Ma Thuột - ảnh 2
Toàn cảnh nhà đày (Nguồn Internet)

Hệ thống tháp canh: Bốn góc của Nhà đày có bốn tháp canh, có lính canh 24/24. Từ các tháp canh có thể quan sát được toàn bộ khuôn viên Nhà đày.
Nhà bếp nằm phía sau lao 5, 6. Có khoảng 30 người làm việc, nhà ăn tập thể có thể chứa khoảng 300 người. Đến giờ ăn, cơm được đổ vào mẹt từ đó mới có người đi phân phát cho tù nhân. Bên cạnh nhà bếp còn có chuồng gà, bể tắm lộ thiên, nhà xí công cộng cho vài chục người vào một lượt.
Nhà làm việc của quản ngục Là nơi làm việc của quản ngục, đồng thời cũng diễn ra những cuộc tra tấn, khai thác tù nhân khi tù nhân mới được chuyển đến nhà đày.
Nằm ngay ở cổng phía Tây của Nhà đày là Bệnh Xá. Hiện nay có trưng bày tượng ở trong.
Mỗi dãy nhà lao tập thể có thể chứa hơn 100 tù nhân. Số lượng tù nhân bao nhiêu thì thực dân Pháp sẽ trang bị một thanh cùm dài bấy nhiêu. mỗi tù nhân bị cùm một chân và khoảng cách giữa các lỗ cùm rất hẹp nên mỗi khi bị cùm, tù nhân chỉ có thể nằm nghiêng chứ không thể nằm thẳng vì người này sẽ đè lên người kia. Và thế là, khi một người đưa chân phải vào cùm thì tự động những tù nhân khác cũng sẽ đưa chân phải vào; nếu không hiểu ý, người đưa chân phải, người đưa chân trái thì người này sẽ đè lên người kia.
Dãy nhà Lao 1 và 2 là nơi để giam giữ những tù chính trị mà thực dân Pháp cho là nguy hiểm, Lao 2 khi chưa xây xong dãy xà lim được coi là lao biệt giam, Lao 1,2 thiết kế tương đối giống nhau, dài khoảng 30m, rộng 6,5m, trên tường có cửa sổ nhỏ để ánh sáng chiếu vào, trên trần nhà có chăng dây thép gai
Lao 3,4: là nơi giam giữ tuỳ nhân bị liệt vào loại nguy hiểm, Lao 3 và 4 nằm ở phía Bắc của Nhà đày. Hai lao này nối liền bằng một phòng tra tấn ở giữa.
Trong mỗi lao, trừ một lối giữa để đi lại, hai bên kê sạp gỗ ván làm chỗ nằm cho tù nhân. Các sạp gỗ kéo dài suốt hai phía:tường của lao. Phía dưới chân sạp đặt một dãy cùm gỗ và treo những ống tre cho tù nhân đi vệ sinh. Cùm làm bằng hai thanh gỗ:dày có đục lỗ hình bán nguyệt, cách một quãng ngắn có một trụ gỗ chắc chắn để giữ cho hai tấm ván khỏi rời ra.
Lao 5,6: là nơi dành cho những người đi làm ngoài với những công việc nặng nhọc, vất vả. Lao 5 và 6 nằm ở phía đông Nhà đày, được thiết kế giống lao 1, 2.
Ngoài ra nhà đày Buôn Ma Thuột còn có một dãy Xà Lim: Là nơi giam giữ những tù nhân mà Pháp cho là nguy hiểm và cứng đầu. Dãy xà lim có 21 phòng, mỗi phòng rộng 1m, dài 2,5m. Bình thường mỗi tù nhân được giam trong một phòng nhưng khi nào đông thì có thể nhốt 2-3 người; cuối mỗi giường đều có 2 ống tre để đựng nước uống và đựng phân. Trong phòng có một sạp nằm, thanh cùm chân,:cánh cửa chỉ có một lỗ vuông nhỏ để lính canh giám sát. Khi nhìn dãy xà lim với rất nhiều cửa sổ trên cao, những cửa sổ này chính là đường luồng cho gió độc vào thẳng buồng giam, mỗi tù nhân chỉ được phát hai bộ quần áo, một bộ ngắn và một bộ dài không đủ chống rét mỗi khi đêm đến đông về. Đó chính là ý đồ thâm độc của thực dân Pháp bởi bọn chúng từng tuyên bố: “Không cần công khai bắn chết tù nhân, chỉ cần giam ở đây cho hít thở không khí nơi này và uống những dòng nước suối là người tù sẽ chết dần chết mòn”.
Thực dân Pháp còn sử dụng chính sách “15 ngày ăn nhạt và 15 ngày ăn mặn”; tức là 15 ngày đầu chỉ cho tù nhân ăn cơm với nước lã, không có chút thức ăn nào rồi sau đó chuyển sang ăn mặn với “công thức” 5 thìa muối một thìa thức ăn và cho uống rất ít nước. Với chế độ ăn uống như vậy, tù nhân kiệt sức rất nhanh và mắc nhiều căn bệnh hiểm nghèo.
Bên ngoài là khoảng sân rộng để tù nhân ra đó tắm nắng, có những cục tạ to dùng để cùm chân.
Vượt lên trên tất cả sự tàn bạo, dã man của kẻ thù là tinh thần đấu tranh bền bỉ, kiên trung của những người tù Cộng sản. Những năm tháng đấu tranh oanh liệt tại Nhà đày Buôn Ma Thuột đã viết thành một bản anh hùng ca về chủ nghĩa yêu nước, ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập nước nhà, là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Đắk Lắk nói riêng và của cả nước nói chung.
Trải qua năm tháng lịch sử, ngày nay Nhà đày Buôn Ma Thuột đã trở thành một địa danh lịch sử, nơi khắc đậm dấu ấn của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đồng thời là một địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước của bao thế hệ cha anh cho thế hệ trẻ. Ngày 10 tháng 7 năm 1980 Bộ Văn hoá – Thông tin đã công nhận Nhà đày Buôn Ma thuột là di tích Lịch sử cấp Quốc gia.
 
ĐẮK LẮK – Nhà đày Buôn Ma Thuột - ảnh 3
ĐẮK LẮK – Nhà đày Buôn Ma Thuột - ảnh 4
ĐẮK LẮK – Nhà đày Buôn Ma Thuột - ảnh 5
Hình ảnh phục dựng trong nhà ngục (Nguồn Internet)
 
Nguyễn Nga tổng hợp
Nguồn tài liệu tham khảo
http://daklak.gov.vn/portal/page/portal/daklak/tong-quan daklak?p_page_id=13371692&pers_id=&folder_id=15937106&item_id=15937643&p_details=1
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%AFk_L%E1%BA%AFk
http://thpt-buonmathuot-daklak.edu.vn/gioi-thieu/gioi-thieu-thanh-pho-buon-ma-thuot.html?showall=1
http://baodaklak.vn/channel/3721/201108/Tu-nhung-cau-chuyen-o-Nha-day-Buon-Ma-Thuot-2088010/
http://vhttdldaklak.gov.vn/TinTuc/tabid/59/id/93/Default.aspx
https://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20120225032130AAVDOwI

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác