HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển

(Cinet-DL)- Hoa huệ biển tên khoa học Endoxocrinus parrae do giống hệt một loài hoa bám dưới đáy đại dương. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng, đây là một loài động vật da gai tương tự như loài nhím biển, có khả năng chạy trốn trước mối đe dọa.
1. Tên di sản/Di tích: Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển
HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển - ảnh 1
Hình ảnh Huệ biển (nguồn: internet)
2. Thời gian: Vào đầu thế kỷ 20, một số nhà khoa học, địa chất người Pháp đã tìm lên Cao nguyên đá Đồng Văn và có những phát hiện bước đầu về cổ sinh, địa tầng trên vùng đá. 
Những phát hiện về địa chất, địa mạo, về cổ sinh với những hóa thạch động, thực vật trên Cao nguyên đá Đồng Văn đã cho thấy vùng đất này chính là một pho sử đá khổng lồ, ghi lại một phần sự tiến hóa, phát triển của trái đất.
3. Năm công nhận: Ngày 23/9/2014, Bộ VHTTDL đã có Quyết định số 3087/QĐ-BVHTTDL công nhận Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển là Di tích cấp quốc gia.
4. Vị trí/Địa hình: Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển thuộc thôn Chín Dỉ Phìn, xã Lũng Pù, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.
Điểm di sản có chiều dài khoảng 500m, phân bố tập trung trên vách taluy, nằm trên trục đường liên xã Lũng Pù đi xã Khâu Vai.
Đây là vùng địa hình nằm trên vùng cao núi đá, đặc trưng cho địa hình cacxtơ, độ cao trung bình từ 1.000 – 1.600m và gồm nhiều khu vực núi đá vôi nằm sát với chí tuyến bắc có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều. 
5. Thổ nhưỡng: Lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền đá vôi bị phân hoá mạnh, phần lớn lớp phủ thổ nhưỡng ở đây là loại đất đỏ xám hoặc vàng sẫm, với thảm thực vật chủ yếu là các loại cây thấp, mật độ thưa.
6. Khí hậu: Huyện Mèo Vạc về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn do nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao. Nét nổi bật của khí hậu nơi đây là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, rất khắc nghiệt, rét đậm kèm theo hanh khô dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
7. Dân cư: Nơi đây địa bàn sinh sống của các dân tộc Lô Lô, Dao, Giáy, Tày, Kinh, Nùng, Hoa, Pu Péo, H’Mông…Dân tộc H’Mông chiếm gần 90% dân số.
Người H’Mông sống rải rác trên các triền núi cao, hầu hết bà con dân tộc ở đây đều sử dụng đá để xếp quanh nhà, biến nơi trú ngụ thành pháo đài vững chắc.
Ngoài nhà ở, người dân nơi đây còn dùng đá xếp thành chuồng trâu, chuồng bò, chuồng lợn. Trên nương, đá được xếp thành những vòng cung giữ đất, giữ nước cho cây lúa, cây ngô. Trên những sườn núi, đá giữ những túm đất nhỏ để gieo ngô, đỗ.
Bà con dân tộc sống ở Mèo Vạc thường sử dụng lù cở (gùi) để đựng bắp ngô, rau, đỗ, củi... đem về nhà mỗi khi lên nương, rẫy hoặc xuống chợ mua những đồ dùng thiết yếu cho sinh hoạt của gia đình.
8. Tóm tắt nội dung: - Tổng Quan:
Hoa huệ biển tên khoa học Endoxocrinus parrae do giống hệt một loài hoa bám dưới đáy đại dương. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng, đây là một loài động vật da gai tương tự như loài nhím biển, có khả năng chạy trốn trước mối đe dọa.
Hoa huệ biển là nhóm động vật da gai cổ nhất tồn tại đến ngày nay. Chúng có khoảng 5000 loài hoá thạch và hơn 600 loài hiện sống. Đa phần huệ biển sống bám với cuống dài, một số ít sống tự do.
Tuy bề ngoài Huệ biển rất giống thực vật nhưng thực chất đây là giống động vật cổ, cách ngày nay khoảng từ 250 triệu năm đến 300 triệu năm tuổi. Huệ biển là loài có miệng và hậu môn cùng ở mặt trên của cơ thể và hệ chân mút có nhiệm vụ trao đổi khí.
Hóa thạch của loài này là những đoạn cuống to có đường kính khoảng 2cm hình trụ. Cuống Huệ biển gồm nhiều đốt có bề dày trung bình khoảng 2mm gắn với nhau. Các nhà nghiên cứu cho biết, lát cắt ngang có thể nhìn thấy cuống Huệ biển hình tròn, gồm 2 phần: lõi màu xám sẫm và vành ngoài màu xám sáng.
Huệ biển sống chủ yếu ở vùng nước biển nông có độ mặn ổn định, được chiếu sáng tốt và nhiều oxy. Việc xuất hiện của Huệ biển ở Lũng Pù, Mèo Vạc là một dấu hiệu chắc chắn rằng nơi đây đã từng là biển.
Phần lớn Huệ biển đều bị tiêu diệt vào cuối kỷ Permi (là kỷ cuối cùng của đại Cổ Sinh kéo dài từ khoảng 298,9 ± 0,15 triệu năm trước (Ma) tới 252,17 ± 0,06 Ma) khi xảy ra khủng hoảng sinh giới thứ 3 cách đây khoảng 250 triệu năm cho thấy Trái đất đã từng trải qua thảm họa do thay đổi môi trường tự nhiên, biến đổi khí hậu.
Điểm hóa thạch Huệ biển Lũng Pù rất có giá trị về mặt khoa học, giáo dục và thẩm mỹ. Qua nghiên cứu đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện tổng cộng 17 nhóm hóa thạch bao gồm: Tay cuộn, Bọ ba thùy, Cá cổ, Huệ biển, Thực vật thủy sinh, Vỏ cứng, San hô vách đáy, San hô 4 tia, Lỗ tầng, Răng nón, Trùng lỗ, Vỏ nón, Hai mảnh vỏ, Chân bụng, Chân đầu, Động vật dạng rêu, Tảo. 
Từ những nghiên cứu về cổ sinh địa tầng và cấu trúc địa chất trên Cao nguyên đá Đồng Văn, cho phép phân chia lịch sử phát triển địa chất khu vực này gồm 7 giai đoạn phát triển với khoảng cách rất xa từ hàng trăm triệu năm.
Cho đến hiện tại, các địa bàn Đồng Văn, Mèo Vạc là những nơi phát hiện ra nhiều hóa thạch nhất với những điểm hóa thạch nổi bật như: Khu vực thị trấn Đồng Văn có hóa thạch Trùng thoi dưới chân núi Đồn Cao, các xã Ma Lé, Lũng Cú, Sủng Là, huyện Đồng Văn… cũng phát hiện những điểm hóa thạch Bọ ba thùy, Tay cuộn; ở khu vực xã Lũng Pù, huyện Mèo Vạc phát hiện hóa thạch Huệ biển…
Rất nhiều những hóa thạch còn nguyên vẹn hình thù y như chúng đang còn sống sau hàng trăm triệu năm.
 
HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển - ảnh 2
HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển - ảnh 3
HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển - ảnh 4
HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển - ảnh 5
HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển - ảnh 6
HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển - ảnh 7
HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển - ảnh 8
HÀ GIANG - Khu Vực Hóa Thạch Huệ Biển - ảnh 9
Một số hình ảnh của khu vực hóa thạch huệ biển (nguồn: internet)
Đăng Huy (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo: 
khoahoc.tv/; svhttdl.hagiang.gov.vn/; vietnamtourism.gov.vn/

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác