HÀ NỘI - Chùa Bà Nành

(Cinet-DL)- Ngày 12 tháng 12 năm 1986, Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Chùa Bà Nành – Tiên Phúc Tự là một di tích nằm trong quần thể di tích lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám có giá trị văn hóa tự thân.
1. Tên di sản/Di tích: Chùa Bà Nành. Tên khác: Tiền Phúc Tự
HÀ NỘI - Chùa Bà Nành - ảnh 1
Cổng chùa Bà Nành (nguồn: sưu tầm internet)

2. Thời gian: Theo một số nghiên cứu cho rằng, chùa Bà Nành được xây dựng vào đầu thời Lê thế kỷ 15.
3. Năm công nhận: Ngày 12 tháng 12 năm 1986, Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Chùa Bà Nành – Tiên Phúc Tự là một di tích nằm trong quần thể di tích lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám có giá trị văn hóa tự thân.
4. Vị trí/Địa hình: Chùa hiện nay tọa lạc ở số nhà 27 phố Văn Miếu (Hà Nội), một cổng khác nằm tại số 154 phố Nguyễn Khuyến.
Chùa Bà Nành nằm trên địa hình chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông.
Hà Nội có diện tích 3.324,92 km2 sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn.
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển.
Ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác.
Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức.
5. Thổ nhưỡng: Hà Nội hiện nay có 4 loại đất chính là đất phù sa trong đê, đất phù sa ngoài đê, đất bạc màu và đất đồi núi.
- Đất phù sa ngoài đê là đất hàng năm được tiếp tục bồi đắp thường xuyên trên các bãi bồi ven sông, hoặc các bãi giữa sông.
- Đất phù sa trong đê do có hệ thống đê nên không đợc các sông bồi đắp thường xuyên.
- Nhóm đất bạc màu phát triển chủ yếu trên đất phù sa cổ tập trung nhiều ở hai huyện Đông Anh và Sóc Sơn là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng, không kết cấu, thành phần cơ giới nhẹ, rời rạc khi khô hạn, kết dính khi ngập nước.
- Nhóm đất đồi núi tập trung ở huyện Sóc Sơn, bị xói mòn nghiêm trọng do cây rừng bị chặt phá, tầng đất mỏng, nhiều nơi trơ sỏi sạn, tầng mùn dường như không còn, đất chua, độ pH thường dưới 4, nghèo chất dinh dưỡng.
6. Khí hậu: Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa.
Nằm về phía bắc của vành đai nhiệt đới, Hà Nội luôn có nhiệt độ cao, thêm vào đó là tác động của biển khiến Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn.
Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C.
Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C.
Trong khoảng thời gian này số ngày nắng của thành phố xuống rất thấp, bầu trời thường xuyên bị che phủ bởi mây và sương, tháng 2 trung bình mỗi ngày chỉ có 1,8 giờ mặt trời chiếu sáng.
Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 (mùa xuân) và tháng 10 (mùa thu), thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông.
7. Dân cư: Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ gần đây.  
- Năm 1954, khi quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội, thành phố có 53 nghìn dân, trên một diện tích 152 km².
- Năm 1961, thành phố được mở rộng, diện tích lên tới 584 km², dân số 91.000 người.
- Năm 1978, Quốc hội quyết định mở rộng thủ đô lần thứ hai với diện tích đất tự nhiên 2.136 km², dân số 2,5 triệu người. 
- Năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, chỉ còn 924 km², nhưng dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người.
- Trong suốt thập niên 1990, cùng việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăng đều đặn, đạt con số 2.672.122 người vào năm 1999. 
- Sau đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6,233 triệu dân và nằm trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới. Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.451.909 người, dân số trung bình năm 2010 là 6.561.900 người.
- Năm 2009, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và 3.816.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%.
8. Tóm tắt nội dung: - Lịch sử hình thành:
Có hai truyền thuyết về việc xây ngôi chùa Bà Nành.
- Truyền thuyết thứ nhất là chùa trước kia được dựng lên để thờ một bà cụ bán hàng không rõ tên tuổi.
Bà cụ thường bán nước chè, đậu nành cho các học trò Trường Quốc Tử Giám.
Tuy nhiên, có tư liệu nói thêm là chùa dựng và đầu triều Lê, thế kỷ XV trên nền quán hàng nước của cụ già ấy và có lần vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đến thăm Quốc Tử Giám đã ghé vào vãn cảnh chùa.
- Truyền thuyết thứ hai gắn liền với một bối cảnh tình thơ đầy lãng mạn. Ấy là từ đầu thế kỷ XIII, vua nhà Lý đã cho dựng ngôi chùa này.
Đến đời nhà Trần thì chùa đổi tên là Tiên Phúc vì theo lời đồn đại trong dân gian, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy có nàng tiên xuất hiện thướt tha trước sân chùa.
Nhà vua đã cùng nàng tiên xướng họa, sau đó, nàng tiên biến mất tại đình Quảng Văn.
Trong chùa hiện nay, hiện vật đặc biệt còn lưu giữ được là pho tượng Bà Nành đôn hậu, gần gũi với đời sống, tượng mang nét nghệ thuật thế kỷ 18, cùng ba tấm bia đá và 1 quả chuông là những hiện vật quý.
- Kiến trúc:
Vào năm Đinh Hợi (1887), vào đời vua Đồng Khánh, chùa Tiên Phúc được tu sửa lớn.
Cấu trúc phía ngoài có tam quan, bên trong hình chuôi vồ chia làm hai nơi tiếp khách và bàn thờ có tượng Phật.
Chùa cúng thờ Bà Nành bên cạnh bàn thờ Phật nên trong chùa còn hưu giữ một phiến đá hình chữ nhật, tương truyền vốn là nơi bà cụ bày hàng nước để bán.
 
HÀ NỘI - Chùa Bà Nành - ảnh 2
HÀ NỘI - Chùa Bà Nành - ảnh 3
Quang cảnh chùa Bà Nành (nguồn: sưu tầm internet)
Đăng Huy (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
https://vi.wikipedia.org; http://tinhtam.vn/ 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác