HÀ NỘI - Chùa Bồ Đề

(Cinet-DL)- Chùa được kiến tạo vào cuối đời nhà Trần (khoảng 1427) trên gò đất cao nên gọi là Núi Trời, nhờ vậy có tên chữ là Thiên Sơn. Sau này do bị chiến tranh tàn phá, mãi cho đến năm 1614 mới được trùng tu tôn tạo lại trên nền chùa cũ.
1. Tên di sản/Di tích: Chùa Bồ Đề.
HÀ NỘI - Chùa Bồ Đề - ảnh 1
Toàn cảnh chùa (nguồn: sưu tầm internet)
2. Thời gian: Chùa được kiến tạo vào cuối đời nhà Trần (khoảng 1427) trên gò đất cao nên gọi là Núi Trời, nhờ vậy có tên chữ là Thiên Sơn.
Sau này do bị chiến tranh tàn phá, mãi cho đến năm 1614 mới được trùng tu tôn tạo lại trên nền chùa cũ và chùa có công đức khắc in được hai quyển Pháp Hoa kinh để lưu hành.
Đến giữa thế kỷ thứ XVIII, di tích dinh Bồ Đề, chùa và vùng phụ cận lại tiếp tục bị chiến tranh hủy hoại.
3. Năm công nhận: Ngày 28 tháng 8 năm 1990, Bộ Văn hóa và Thông tin đã xếp hạng Chùa Bồ Đề là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật.
4. Vị trí/Địa hình: Chùa nằm ở phố Phú Viên phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội (trước kia thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội), cách bờ bắc cầu Chương Dương khoảng 500m về phía Nam.
Chùa nằm trên địa hình chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông.
Hà Nội có diện tích 3.324,92 km2 sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn.
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển.
Ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác.
Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức.
5. Thổ nhưỡng: Hà Nội hiện nay có 4 loại đất chính là đất phù sa trong đê, đất phù sa ngoài đê, đất bạc màu và đất đồi núi.
- Đất phù sa ngoài đê là đất hàng năm được tiếp tục bồi đắp thường xuyên trên các bãi bồi ven sông, hoặc các bãi giữa sông.
- Đất phù sa trong đê do có hệ thống đê nên không đợc các sông bồi đắp thường xuyên.
- Nhóm đất bạc màu phát triển chủ yếu trên đất phù sa cổ tập trung nhiều ở hai huyện Đông Anh và Sóc Sơn là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng, không kết cấu, thành phần cơ giới nhẹ, rời rạc khi khô hạn, kết dính khi ngập nước.
- Nhóm đất đồi núi tập trung ở huyện Sóc Sơn, bị xói mòn nghiêm trọng do cây rừng bị chặt phá, tầng đất mỏng, nhiều nơi trơ sỏi sạn, tầng mùn dường như không còn, đất chua, độ pH thường dưới 4, nghèo chất dinh dưỡng.
6. Khí hậu: Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa.
Nằm về phía bắc của vành đai nhiệt đới, Hà Nội luôn có nhiệt độ cao, thêm vào đó là tác động của biển khiến Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn.
Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C.
Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C.
Trong khoảng thời gian này số ngày nắng của thành phố xuống rất thấp, bầu trời thường xuyên bị che phủ bởi mây và sương, tháng 2 trung bình mỗi ngày chỉ có 1,8 giờ mặt trời chiếu sáng.
Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 (mùa xuân) và tháng 10 (mùa thu), thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông.
7. Dân cư: Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ gần đây.  
- Năm 1954, khi quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội, thành phố có 53 nghìn dân, trên một diện tích 152 km².
- Năm 1961, thành phố được mở rộng, diện tích lên tới 584 km², dân số 91.000 người.
- Năm 1978, Quốc hội quyết định mở rộng thủ đô lần thứ hai với diện tích đất tự nhiên 2.136 km², dân số 2,5 triệu người. 
- Năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, chỉ còn 924 km², nhưng dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người.
- Trong suốt thập niên 1990, cùng việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăng đều đặn, đạt con số 2.672.122 người vào năm 1999. 
- Sau đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6,233 triệu dân và nằm trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới. Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.451.909 người, dân số trung bình năm 2010 là 6.561.900 người.
- Năm 2009, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và 3.816.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%.
8. Tóm tắt nội dung: - Giá trị lịch sử:
Chùa Bồ Đề chỉ còn tòa thượng 5 gian xây trên nền cao, dáng bề thế, cổ kính. Sở dĩ gọi là "Bồ Đề" vì xa xưa trong làng có hai cây bồ đề cao, nổi bật giữa những làng quê ven sông Hồng, ngang đỉnh tháp chùa Báo Thiên ở trong Kinh thành Thăng Long ở bên kia sông.
Tương truyền chùa được xây trên đất dinh Bồ Đề của Lê Lợi khi vua bao vây thành Đông Quan năm 1472.
Dinh được gọi tên là dinh Bồ Đề vì lúc ấy trong khuôn viên có hai cây bồ đề to. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ "Đại công đức Bồ Đề" của vua Lê Thái Tổ. Thế nhưng, cũng có nhiều ý kiến cho rằng chùa được xây từ cuối đời nhà Trần, trên một gò đất cao gọi là Núi Trời (nên còn có tên gọi là Thiên Sơn). Sau này, do bị chiến tranh tàn phá nên năm 1614, chùa được trùng tu tôn tạo trên nền chùa cũ và công đức khắc in vào hai quyển Pháp Hoa kinh để lưu hành.
Đến giữa thế kỉ XVIII, chùa lại tiếp tục bị chiến tranh huỷ hoại. Năm Giáp Tuất đời Tự Đức 27 (1874), đại sư Thích Nguyên Biểu, tự hiệu Nhất Thiết đại sư (1835 - 1906) đến trụ trì và ngài đã trùng tu, tôn tạo trên nền chùa cũ gồm thượng điện rộng 5 gian, cho thỉnh thêm tượng Phật mới, chùa Hộ, nhà Thiêu hương, nhà Pháp bảo và cửa Tam quan.
Đầu thế kỉ XX, chùa Bồ Đề trở thành trung tâm đào tạo tăng ni của thành phố Hà Nội, trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Trí Hải đảm trách.
Năm 1946, Pháp trở lại gây chiến, trung tâm đã dời đi nơi khác.
Năm 1951, thành phố bị lũ lụt lớn, chùa bị sạt lở, chỉ còn lại toà thượng điện.
Năm 1971, chùa một lần nữa được trùng tu như kê kích lại toàn bộ thượng điện và xây dựng lại hậu cung phía sau, nâng cao nền chùa.
Năm 1986, chùa được trùng tu nhà Tổ, hậu liêu, nhà khách, nhà Tăng, nhà bếp cũng như khu vực nhà ở của hơn 50 cô nhi đang được nuôi dạy tại chùa.
Năm 1999, chùa tiếp tục xây lầu bát giác và tôn trí tượng Bồ Tát Quan Thế Âm cao 3,2m.
 
HÀ NỘI - Chùa Bồ Đề - ảnh 2
HÀ NỘI - Chùa Bồ Đề - ảnh 3
HÀ NỘI - Chùa Bồ Đề - ảnh 4
Một số hình ảnh chùa Bồ Đề (nguồn: sưu tầm internet)
Đăng Huy  (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
http://www.chuabode.org.vnhttps://vi.wikipedia.org; https://thuyngakhanhhoa.wordpress.com

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác