HÀ NỘI - Chùa Lý Quốc Sư

(Cinet-DL)- Chùa Lý Quốc Sư được xây dựng vào năm 1131 vào thời nhà Lý. Chùa đã được trùng tu nhiều lần, đặc biệt là năm 1674 và 1855 mà di tích là những pho tượng thờ còn ở chùa.
1. Tên di sản/Di tích: Chùa Lý Quốc Sư.
HÀ NỘI - Chùa Lý Quốc Sư - ảnh 1
2. Thời gian: Chùa Lý Quốc Sư được xây dựng vào năm 1131 vào thời nhà Lý.
- Chùa đã được trùng tu nhiều lần, đặc biệt là năm 1674 và 1855 mà di tích là những pho tượng thờ còn ở chùa.
- Năm 1946, chùa bị hư hỏng nặng.
- Năm 1954, Hòa thượng Thích Thanh Định về trụ trì đã tổ chức xây dựng lại ngôi chùa.
- Từ năm 1992, Thượng tọa trụ trì Thích Bảo Nghiêm đã nhiều lần tổ chức trùng tu ngôi chùa.
- Ngày 05-6-2000, Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm đã cho khởi công trùng tu ngôi đại hùng bảo điện thanh thoáng, trang nghiêm.
3. Năm công nhận: Năm 1995, Nhà nước Việt Nam đã công nhận Chùa Lý Quốc Sư là di tích lịch sử văn hóa.
4. Vị trí/Địa hình: Chùa Lý Quốc Sư hiện nay tọa lạc tại số phố 50 Lý Quốc Sư, thành phố Hà Nội
Đền nằm trên địa hình chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông.
Hà Nội có diện tích 3.324,92 km2 sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn.
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển.
Ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác.
Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức.
5. Thổ nhưỡng: Hà Nội hiện nay có 4 loại đất chính là đất phù sa trong đê, đất phù sa ngoài đê, đất bạc màu và đất đồi núi.
- Đất phù sa ngoài đê là đất hàng năm được tiếp tục bồi đắp thường xuyên trên các bãi bồi ven sông, hoặc các bãi giữa sông.
- Đất phù sa trong đê do có hệ thống đê nên không đợc các sông bồi đắp thường xuyên.
- Nhóm đất bạc màu phát triển chủ yếu trên đất phù sa cổ tập trung nhiều ở hai huyện Đông Anh và Sóc Sơn là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng, không kết cấu, thành phần cơ giới nhẹ, rời rạc khi khô hạn, kết dính khi ngập nước.
- Nhóm đất đồi núi tập trung ở huyện Sóc Sơn, bị xói mòn nghiêm trọng do cây rừng bị chặt phá, tầng đất mỏng, nhiều nơi trơ sỏi sạn, tầng mùn dường như không còn, đất chua, độ pH thường dưới 4, nghèo chất dinh dưỡng.
6. Khí hậu: Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa.
Nằm về phía bắc của vành đai nhiệt đới, Hà Nội luôn có nhiệt độ cao, thêm vào đó là tác động của biển khiến Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn.
Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C.
Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C.
Trong khoảng thời gian này số ngày nắng của thành phố xuống rất thấp, bầu trời thường xuyên bị che phủ bởi mây và sương, tháng 2 trung bình mỗi ngày chỉ có 1,8 giờ mặt trời chiếu sáng.
Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 (mùa xuân) và tháng 10 (mùa thu), thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông.
7. Dân cư: Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ gần đây.  
- Năm 1954, khi quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội, thành phố có 53 nghìn dân, trên một diện tích 152 km².
- Năm 1961, thành phố được mở rộng, diện tích lên tới 584 km², dân số 91.000 người.
- Năm 1978, Quốc hội quyết định mở rộng thủ đô lần thứ hai với diện tích đất tự nhiên 2.136 km², dân số 2,5 triệu người. 
- Năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, chỉ còn 924 km², nhưng dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người.
- Trong suốt thập niên 1990, cùng việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăng đều đặn, đạt con số 2.672.122 người vào năm 1999. 
- Sau đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6,233 triệu dân và nằm trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới. Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.451.909 người, dân số trung bình năm 2010 là 6.561.900 người.
- Năm 2009, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và 3.816.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%.
8. Tóm tắt nội dung: 
8.1. Tổng quan kiến trúc:

Các tượng thờ tại Chùa được đặt ở hai gian nhà Điện Phật và được bài trí tôm nghiêm. Tượng đức Phật A Di Đà được tôn trí ở chính giữa gian trước. Hai bên bức tượng Phật A Di Đà đặt thờ tượng Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí.
Phía trước là các tượng Quan Âm Chuẩn Đề, Quan Âm tọa sơn, Bồ tát đản sinh (tòa Cửu Long) và Nam Tào, Bắc Đẩu.
Tiếp đến gian nhà sau, nằm chính giữa là điện thờ Thiền sư Minh Không. Phía sau tôn trí tượng Tam Thế Phật.
Đặc biệt ở đây có thờ các tượng Thiền sư Giác Hải, Thiền sư Từ Đạo Hạnh và tượng thân phụ, thân mẫu của Quốc sư Minh Không, được đắp nổi trên bia đá vào năm 1674; tượng gia đình quan huyện Thọ Xương được tạc bằng gỗ năm 1855.
Ở sân chùa có một cột trụ bằng đá cao 2,4m, đỉnh trụ đặt thờ tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Thân cột đá có các trang trí hoa sen, hoa cúc … vòng quanh cột theo phong cách nghệ thuật Hậu Lê.  
8.2. Hiện vật lưu giữ tại chùa:
Chùa Lý Quốc Sư hiện đang lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật truyền thần với các nhân vật lịch sử, phong cách điêu khắc thời Lê như nhóm tượng gỗ phủ sơn 4 tượng công chúa thời nhà Lý, 4 quan nhà Lý với phẩm phục triều đình, mỗi người một dáng vẻ thần thái khác nhau.
Đây là những pho tượng Hậu mà theo một số nhà nghiên cứu mỹ thuật cho là tượng 4 Công chúa và 3 quan đại thần nhà Lý. Các bằng chứng được tìm thấy khi rời các pho tượng ra khỏi vị trí để tu sửa chùa đã tìm thấy những dòng chữ ghi rõ họ tên, quê quán và năm tạc tượng ở sau lưng các pho tượng. Tất cả dữ liệu đó đều đúng với nội dung ghi trong tấm bia đá năm 1855 và bia đồng năm 1954 hiện còn lưu giữ tại chùa.
Toàn bộ 4 chân dung phù điêu đá tô màu: Từ Đạo Hạnh trong bia cao 1,3m, Đức Thánh Mẫu ngồi chống chân trên đài sen như tượng tròn dựa vào bia cao 82 cm, Đức Thánh phụ cao 93 cm đội mũ vuông, có dải trùm vai và sư Giác Hải đầu búi tó, râu ngắn cao 97 cm.
Đây là những tượng đá cổ thế kỷ 16 mô ta theo hình thức tự nhiên, gần với người thực. Chùa còn có một quả chuông Bảo Tháp tự chung có niên đại Ất Hợi nhưng chưa rõ đời vua.
HÀ NỘI - Chùa Lý Quốc Sư - ảnh 2
HÀ NỘI - Chùa Lý Quốc Sư - ảnh 3
HÀ NỘI - Chùa Lý Quốc Sư - ảnh 4
HÀ NỘI - Chùa Lý Quốc Sư - ảnh 5
Một số hình ảnh chùa Lý Quốc Sư (nguồn: sưu tầm internet)
Đăng Huy (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

http//vi.wikipedia.org;
http://chuabang.com/;
http://360.hncity.org/

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác