HÀ NỘI - Chùa Trấn Quốc

(Cinet-DL) - Hiện nay cảnh vật chùa Trấn Quốc đã thay đổi hoàn toàn khác trong quá trình hàng nghìn năm tồn tại. Bao quanh bờ hồ là những ngôi nhà biệt thự và công trình hiện đại góp phần thể hiện sự hoàn thiện tổng thể kiến trúc của thành phố.
1. Tên di sản/Di tích: Chùa Trấn Quốc.
HÀ NỘI - Chùa Trấn Quốc - ảnh 1
2. Thời gian: - Chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng.
- Đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời nhà Lý) và điện Hàn Nguyên (thời nhà Trần).
- Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng.
- Năm 1639 trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa về công việc tôn tạo này.
- Đầu đời nhà Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng.
- Năm 1821, vua Minh Mạng trong một lần đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa.
- Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Tuy nhiên nhân dân vẫn quen gọi là chùa Trấn Quốc.
3. Năm công nhận: Năm 1989, Bộ Văn Hóa đã công nhận Chùa Trấn Quốc là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.
4. Vị trí/Địa hình: Chùa Trấn Quốc nằm trên đường Thanh Niên, quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông.
Hà Nội có diện tích 3.324,92 km2 sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn.
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển.
Ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác.
Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức.
5. Thổ nhưỡng: Hà Nội hiện nay có 4 loại đất chính là đất phù sa trong đê, đất phù sa ngoài đê, đất bạc màu và đất đồi núi.
- Đất phù sa ngoài đê là đất hàng năm được tiếp tục bồi đắp thường xuyên trên các bãi bồi ven sông, hoặc các bãi giữa sông.
- Đất phù sa trong đê do có hệ thống đê nên không đợc các sông bồi đắp thường xuyên.
- Nhóm đất bạc màu phát triển chủ yếu trên đất phù sa cổ tập trung nhiều ở hai huyện Đông Anh và Sóc Sơn là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng, không kết cấu, thành phần cơ giới nhẹ, rời rạc khi khô hạn, kết dính khi ngập nước.
- Nhóm đất đồi núi tập trung ở huyện Sóc Sơn, bị xói mòn nghiêm trọng do cây rừng bị chặt phá, tầng đất mỏng, nhiều nơi trơ sỏi sạn, tầng mùn dường như không còn, đất chua, độ pH thường dưới 4, nghèo chất dinh dưỡng.
6. Khí hậu: Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa.
Nằm về phía bắc của vành đai nhiệt đới, Hà Nội luôn có nhiệt độ cao, thêm vào đó là tác động của biển khiến Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn.
Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C.
Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C.
Trong khoảng thời gian này số ngày nắng của thành phố xuống rất thấp, bầu trời thường xuyên bị che phủ bởi mây và sương, tháng 2 trung bình mỗi ngày chỉ có 1,8 giờ mặt trời chiếu sáng.
Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 (mùa xuân) và tháng 10 (mùa thu), thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông.
7. Dân cư: Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ gần đây.  
- Năm 1954, khi quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội, thành phố có 53 nghìn dân, trên một diện tích 152 km².
- Năm 1961, thành phố được mở rộng, diện tích lên tới 584 km², dân số 91.000 người.
- Năm 1978, Quốc hội quyết định mở rộng thủ đô lần thứ hai với diện tích đất tự nhiên 2.136 km², dân số 2,5 triệu người. 
- Năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, chỉ còn 924 km², nhưng dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người.
- Trong suốt thập niên 1990, cùng việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăng đều đặn, đạt con số 2.672.122 người vào năm 1999. 
- Sau đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6,233 triệu dân và nằm trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới. Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.451.909 người, dân số trung bình năm 2010 là 6.561.900 người.
- Năm 2009, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và 3.816.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%.
8. Tóm tắt nội dung: - Kiến trúc:
Vào thời Hai Bà Trưng  tù năm 40 đến năm 43, khu vực xung quanh Hồ Tây dân cư rất thưa thớt, có các hang động vừa và nhỏ và rừng cây bao phủ, trong rừng còn có cả một số loài thú quý hiếm sinh tồn.
Hiện nay cảnh vật chùa đã thay đổi hoàn toàn khác trong quá trình hàng nghìn năm tồn tại. Bao quanh bờ hồ là những ngôi nhà biệt thự và công trình hiện đại góp phần thể hiện sự hoàn thiện tổng thể kiến trúc của thành phố. Tuy nhiên, sự hình thành này đã vô tình phá vỡ cảnh quan lịch sử và tâm linh trong quan niệm sự sống của người dân bản địa.
Bước vào cửa chùa, phía trên có ghi ba chữ “Phương Tiện môn” và câu đối hai bên viết bằng chữ Nôm:“Vang tai xe ngựa qua đường tục/ Mở mặt non sông đứng cửa thiền”.
Giống như hầu hết những ngôi chùa khác ở Việt Nam, kết cấu và nội thất chùa Trấn Quốc có sự sắp xếp trình tự và theo nguyên tắc khắt khe của Phật giáo.
Chùa gồm nhiều lớp nhà với ba ngôi chính bao gồm Tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện nối thành hình chữ Công (工).
Tiền đường hướng về phía Tây, hai bên Tiền đường là nhà thiêu hương và thượng điện là hai dãy hành lang.
Phía sau thượng điện là gác chuông. Gác chuông chùa là một ngôi ba gian, mái chồng diêm, nằm trên trục sảnh đường chính. Bên phải là nhà tổ và bên trái là nhà bia. Trong chùa hiện nay đang lưu giữ 14 tấm bia.
Trên 14 tấm bia khắc năm 1815 có bài văn của tiến sĩ Phạm Quý Thích ghi lại việc tu sửa lại chùa sau một thời gian dài đổ nát. Công việc này bắt đầu vào năm 1813 và kết thúc vào năm 1815.
Phía sau chùa có một số mộ tháp cổ từ đời Vĩnh Hựu và Cảnh Hưng (thế kỉ 18).
Khuôn viên chùa có Bảo tháp lục độ đài sen được xây dựng năm 1998. Bảo tháp lớn gồm 11 tầng, cao 15m. Mỗi tầng tháp có 6 ô cửa hình vòm, trong mỗi ô đặt một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý. Đỉnh tháp có đài sen chín tầng (được gọi là Cửu phẩm liên hoa) cũng bằng đá quý.
Bảo tháp này được dựng đối xứng với cây bồ đề lớn do Tổng thống Ấn Độ tặng khi ông đến thăm Hà Nội năm 1959. Thượng toạ Thích Thanh Nhã, Uỷ viên Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trụ trì chùa Trấn Quốc, đã giải thích sự đối xứng đó là: "Hoa sen tượng trưng cho Phật tính chân, như tính sinh ở dưới bùn mà không bị ô uế. Bồ đề là trí giác, trí tuệ vô thượng. 
 
HÀ NỘI - Chùa Trấn Quốc - ảnh 2
HÀ NỘI - Chùa Trấn Quốc - ảnh 3
HÀ NỘI - Chùa Trấn Quốc - ảnh 4
Một số hình ảnh chủa Trấn Quốc (nguồn: sưu tầm internet)
Đăng Huy (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
http://www.vntravellive.com; http://www.chuaquansu.net/gioi-thieu-c37.html
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác