HÒA BÌNH - Hang Động Núi Niệm

(Cinet-DL)- Hang Niệm có từ  lâu đời, khởi nguyên là một ngôi đền nhỏ dưới chân núi, trong hang đặt một ban thờ. Hiện nay, kiến trúc của đền đã hoàn thiện cơ bản, có tam quan, nhà sắp lễ ngăn nắp và phát triển diện tích nhà tiền tế rộng hơn.
1. Tên di sản/Di tích: Hang động Núi Niệm.
HÒA BÌNH - Hang Động Núi Niệm - ảnh 1
2. Thời gian: Hang Niệm có từ  lâu đời, khởi nguyên là một ngôi đền nhỏ dưới chân núi, trong hang đặt một ban thờ. Hiện nay, kiến trúc của đền đã hoàn thiện cơ bản, có tam quan, nhà sắp lễ ngăn nắp và phát triển diện tích nhà tiền tế rộng hơn. Theo các cụ cao niên kể lại, thời tiền sử núi Niệm nằm giữa vùng núi hoang sơ.
3. Năm công nhận: Ngày 23 tháng 2 năm 2014  Bộ VH-TT&DL công nhận quần thể hang động núi Niệm tại xã Phú Thành là di tích cấp quốc gia.
4. Vị trí/Địa hình: Hang động núi Niệm gồm 3 di tích: di tích lịch sử văn hóa đền Niệm, di tích thắng cảnh động Thông Linh, di tích khảo cổ học mái đá Niệm thuộc địa phận Làng Chùa, xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
Đây là khu vực tỉnh miền núi, tiếp giáp với phía tây đồng bằng sông Hồng Hòa Bình có địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng tây bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao có độ cao trung bình từ 600 – 700 m với địa hình hiểm trở.
Hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn như sông Đà, sông Bưởi,sông Lạng, sông Bùi... 
5. Thổ nhưỡng: Hoà Bình là nơi tập trung nhiều loại khoáng sản đang được khai thác như: amiăng, than, nước khoáng, đá vôi…, đáng lưu ý nhất là đá, nước khoáng, đất sét có trữ lượng lớn.
Số lượng khoáng sản tập trung tại đây đều có trữ lượng lớn như: đá gabrodiaba trữ lượng 2,2 triệu m3; đá granít trữ lượng 8,1 triệu m3; đặc biệt đá vôi có trữ lượng rất lớn trên 700 triệu tấn, đang được sản xuất phục vụ xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ bản…
Ngoài ra, than đá có 6 mỏ nhỏ và 2 điểm khai thác than ở các huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Lạc Sơn, Đà Bắc, Kỳ Sơn, tổng trữ lượng cấp C1 là 982.000 tấn. Đôllômit, barit, cao lanh cũng có trữ lượng lớn, trong đó có một số mỏ còn chưa được xác định rõ về trữ lượng. Sét phân bố ở vùng thấp, có rải rác trong tỉnh, trữ lượng ước tính 8 – 10 triệu m3.
Ngoài ra, kho tài nguyên khoáng sản của tỉnh còn rất nhiều mỏ đa kim như: vàng, đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân, antimon, pyrit, phốtphorit…
6. Khí hậu: Hòa Bình có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa đông phi nhiệt đới khô lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều.
Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23 °C. Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 - 29 °C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 - 16,5 °C.
7. Dân cư: Theo kết quả chính thức điều tra dân số tháng 7/2009 dân số tỉnh Hòa Bình là 832.543.
Theo thống kê dân số toàn quốc năm 1999, trên địa bàn tỉnh có 6 dân tộc sinh sống.
Chiếm đa số là người Mường 63,3%; người Kinh chiếm 27,73%; người Thái 3,9%; người Dao chiếm 1,7%; người Tày chiếm 2,7%; ngườiMông chiếm 0,52%; ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh.
Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà người Kinh không chiếm đa số, đồng thời tỉnh này cũng được coi là thủ phủ của người Mường.
- Những người Kinh sống ở Hòa Bình đầu tiên đã lên tới 4-5 đời; nhưng đa số di cư tới Hòa Bình từ những năm 1960 của thế kỉ trước, thuộc phong trào khai hoang từ các tỉnh đồng bằng lân cận (Nam Định,Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây...).
- Người Thái, chủ yếu sống tập trung ở huyện Mai Châu. Tuy sống gần với người Mường lâu đời và đã bị ảnh hưởng nhiều về phong tục, lối sống (đặc biệt là trang phục), nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa độc đáo..
- Người Tày, chủ tập trung ở huyện Đà Bắc, sống xen kẽ với người Mường, người Dao. Người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa gần giống với người Thái, đặc biệt là ngôn ngữ.
- Người Dao sống thành cộng đồng ở các huyện Đà Bắc, Lương Sơn, Kim Bôi, Cao Phong, Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình.Người H'mông sống tập trung ở xã Hang Kia và Pà Cò của huyện Mai Châu.
8. Tóm tắt nội dung: - Giá trị:
Quần thể hang động núi Niệm gồm 3 di tích liền kề nhau: di tích lịch sử văn hóa đền Niệm, di tích thắng cảnh động Thông Linh, di tích khảo cổ học mái đá Niệm. Núi Niệm nằm trong dãy núi Ba Cô. Đền Niệm có từ  lâu đời, khởi nguyên là một ngôi đền nhỏ dưới chân núi, trong hang đặt một ban thờ. Hiện nay, kiến trúc của đền đã hoàn thiện cơ bản, có tam quan, nhà sắp lễ ngăn nắp và phát triển diện tích nhà tiền tế rộng hơn để phục vụ du khách. Đền cũ trở thành hậu cung, vừa hài hòa, vừa không phá vỡ cảnh quan và không gian linh thiêng vốn có. Đền thờ chính tam vị chúa Mường (đệ nhất Tây Thiên, đệ nhị Nguyệt Hồ, đệ tam Lâm Thao) và mẫu thượng ngàn, thượng thiên. Núi Niệm ẩn chứa nhiều huyền tích dân gian. Theo các cụ cao niên kể lại, thời tiền sử núi Niệm nằm giữa vùng núi hoang sơ. Bất chợt một hôm, người dân quanh vùng thấy ba ánh hào quang uốn lượn trên dãy núi rồi cùng đáp xuống và biến mất. Tương truyền đó là hiện thân của tam vị chúa Mường đến giúp dân khai dân, lập ấp. Để tưởng nhớ công lao, nhân dân đã lập đền thờ dưới chân núi. Xưa kia, mỗi lần có việc đại sự của làng, tổng, quan chức địa phương lại đến ngôi đền để khấn, niệm được phù hộ. Nhân dân mỗi khi qua đều nhẩm khấn, niệm.
Động Thông Linh nằm ngay phía bên phải và phía sau đền Niệm. Năm 2009, qua quá trình bới đất để tu bổ đền đã làm lộ ra hang gốc và các ngách với vô vàn nhũ đá, măng đá tuyệt đẹp. Đặc biệt đã phát hiện ra cửa hang thông lên đền Niệm. Du khách như lặng đi vì vẻ đẹp của các nhũ đá, măng đá và cảm nhận như đang lạc vào chốn cung phòng của 3 bà chúa Mường với tán, lọng vàng, giường ngự và vô vàn chùm đèn. Đến với cung phòng thứ hai dài trên 20 m, nơi rộng nhất 6 m, vòm trần cao từ 2 - 14 m, du khách tiếp tục được chiêm ngưỡng thế giới nhũ đá nhưng là cảnh thôn quê trù phú như tạc từ bên ngoài vào. Các khối nhũ mọc so le từ nền động vươn lên như một khu vườn đầy hoa trái xen kẽ các ngôi nhà. Điểm nổi bật tại cung phòng này là hình bóng một cụ rùa khổng lồ, mai ghồ ghề, đầu ngếch lên cao
Tiến về cửa hang phía tây - nam của động, theo một cầu thang nhỏ quanh co, du khách bước ra bên ngoài. Đứng ở cửa hang cao hơn mặt ruộng khoảng 15 m sẽ có ngọn gió đồng mang hương thơm của hoa trái xà vào lòng người như đánh thức mọi người về với thực tại để tiếp tục khám phá mái đá Niệm. quần thể hang động núi Niệm có nhiều giá trị về lịch sử, văn hoá, lễ hội và du lịch. Lễ hội đình làng, chùa mà đền Niệm là một thiết chế trong đó là lễ hội lớn của vùng đất Lạc Thủy mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Mường. Kết nối các điểm du lịch như chùa Tiên, Nhà máy in tiền và có sự quan tâm đúng mức.
 
HÒA BÌNH - Hang Động Núi Niệm - ảnh 2
HÒA BÌNH - Hang Động Núi Niệm - ảnh 3
HÒA BÌNH - Hang Động Núi Niệm - ảnh 4
Một số ảnh núi Niệm (nguồn: sưu tầm internet)
Đỗ Khắc Tình (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
tienphong.vn/Kinh-Te; tinmoi.vn/; http://www.chinhphu.vn/portal; https://vi.wikipedia.org/wiki

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác