HÒA BÌNH - Nhà Máy In Tiền Đồn Điền Chi Nê

(Cinet-DL)- Đồn điền được xây dựng cuối thế kỷ XIX với diện tích rộng 7.331 ha. Năm 1943, đồn điền được chủ sở hữu Bô-Ren bán lại cho gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện, một nhà tư sản Việt Nam yêu nước với giá hai nghìn lượng vàng.
1. Tên di sản/Di tích: Nhà máy in tiền đồn điền Chi Nê nằm ở đồn điền Chi Nê (giai đoạn 1946 - 1947 ), xã Cố Nghĩa, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
HÒA BÌNH - Nhà Máy In Tiền Đồn Điền Chi Nê - ảnh 1
2. Thời gian: Đồn điền được xây dựng cuối thế kỷ XIX với diện tích rộng 7.331 ha. Năm 1943, đồn điền được chủ sở hữu Bô-Ren bán lại cho gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện, một nhà tư sản Việt Nam yêu nước với giá hai nghìn lượng vàng.
Trong những năm đầu độc lập, với ngân khố quốc gia gần như trống rỗng nước ta trong tình trạng khó khăn. Việc tổ chức in và phát hành giấy bạc Tài chính Việt Nam được xem như chủ trương lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với nền Tài chính tiền tệ nước nhà.
Ông Đỗ Đình Thiện đã mua lại nhà in Tô-panh của Pháp sau đó hiến cho Chính phủ. Từ đó Nhà máy in tiền, sản xuất những đồng tiền đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lưu hành trên toàn quốc.
3. Năm công nhận: Năm 2007, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng Nhà máy in tiền Đồn điền Chi Nê là di tích lịch sử cấp Quốc Gia.
4. Vị trí/Địa hình: Đây là khu vực tỉnh miền núi, tiếp giáp với phía tây đồng bằng sông Hồng Hòa Bình có địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng tây bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao có độ cao trung bình từ 600 – 700 m với địa hình hiểm trở.
Hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn như sông Đà, sông Bưởi,sông Lạng, sông Bùi... 
5. Thổ nhưỡng: Hoà Bình là nơi tập trung nhiều loại khoáng sản đang được khai thác như: amiăng, than, nước khoáng, đá vôi…, đáng lưu ý nhất là đá, nước khoáng, đất sét có trữ lượng lớn.
Số lượng khoáng sản tập trung tại đây đều có trữ lượng lớn như: đá gabrodiaba trữ lượng 2,2 triệu m3; đá granít trữ lượng 8,1 triệu m3; đặc biệt đá vôi có trữ lượng rất lớn trên 700 triệu tấn, đang được sản xuất phục vụ xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ bản…
Ngoài ra, than đá có 6 mỏ nhỏ và 2 điểm khai thác than ở các huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Lạc Sơn, Đà Bắc, Kỳ Sơn, tổng trữ lượng cấp C1 là 982.000 tấn. Đôllômit, barit, cao lanh cũng có trữ lượng lớn, trong đó có một số mỏ còn chưa được xác định rõ về trữ lượng. Sét phân bố ở vùng thấp, có rải rác trong tỉnh, trữ lượng ước tính 8 – 10 triệu m3.
Ngoài ra, kho tài nguyên khoáng sản của tỉnh còn rất nhiều mỏ đa kim như: vàng, đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân, antimon, pyrit, phốtphorit…
6. Khí hậu: Hòa Bình có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa đông phi nhiệt đới khô lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều.
Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23 °C. Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 - 29 °C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 - 16,5 °C.
7. Dân cư: Theo kết quả chính thức điều tra dân số tháng 7/2009 dân số tỉnh Hòa Bình là 832.543.
Theo thống kê dân số toàn quốc năm 1999, trên địa bàn tỉnh có 6 dân tộc sinh sống.
Chiếm đa số là người Mường 63,3%; người Kinh chiếm 27,73%; người Thái 3,9%; người Dao chiếm 1,7%; người Tày chiếm 2,7%; ngườiMông chiếm 0,52%; ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh.
Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà người Kinh không chiếm đa số, đồng thời tỉnh này cũng được coi là thủ phủ của người Mường.
- Những người Kinh sống ở Hòa Bình đầu tiên đã lên tới 4-5 đời; nhưng đa số di cư tới Hòa Bình từ những năm 1960 của thế kỉ trước, thuộc phong trào khai hoang từ các tỉnh đồng bằng lân cận (Nam Định,Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây...).
- Người Thái, chủ yếu sống tập trung ở huyện Mai Châu. Tuy sống gần với người Mường lâu đời và đã bị ảnh hưởng nhiều về phong tục, lối sống (đặc biệt là trang phục), nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa độc đáo..
- Người Tày, chủ tập trung ở huyện Đà Bắc, sống xen kẽ với người Mường, người Dao. Người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa gần giống với người Thái, đặc biệt là ngôn ngữ.
- Người Dao sống thành cộng đồng ở các huyện Đà Bắc, Lương Sơn, Kim Bôi, Cao Phong, Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình.Người H'mông sống tập trung ở xã Hang Kia và Pà Cò của huyện Mai Châu.
8. Tóm tắt nội dung: - Giá trị lịch sử:
Năm 1946, sự kiện Nhà máy In tiền Tô-panh (sau này là cửa hàng bách hóa số 5 đường Nam Bộ, nay là đường Lê Duẩn, Hà Nội) bị lộ đã khiến cho việc in tiền gặp khó khăn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ra lệnh chuyển toàn bộ máy móc nhà in lên Đồn điền Chi Nê. Tại đây, gia đình ông Đỗ Đình Thiện đã dành vị trí thích hợp, cho mượn nhà xưởng, máy điện, nước, nhà kho để lắp đặt Nhà máy In tiền.
Vào thời điểm đấy, Nhà máy In tiền còn thô sơ, máy móc chưa hiện đại nên việc in tiền rất khó khăn, qua nhiều cung đoạn, như: In lần lượt từng màu, số sê-ri, sau đó mới cắt.
Mệnh giá lớn được in ốp-xét, mệnh giá nhỏ in bằng máy sốp, ti pô (5 đồng, 2 đồng, 1 đồng, 5 hào, 2 hào, 1 hào). Tiền in xong được đóng hòm chuyển lên cất giữ tại gia đình ông Bùi Văn Xin ở xóm Đồng Thung, xã Cố Nghĩa.
Nơi đây, tờ bạc “con trâu xanh” đã ra đời là đồng bạc mệnh giá lớn nhất lúc bấy giờ là 100 đồng Việt Nam. Nhà máy in tiền đầu tiên của Việt Nam đã vực dậy nền tài chính non yếu, và loại bỏ đồng tiền Đông Dương của thực dân Pháp.
Đồn điền Chi Nê bị tàn phá nghiêm trọng sau trận bom năm 1947. Theo lệnh của Chính phủ và Bộ Tài Chính đã di chuyển toàn bộ Nhà máy in tiền và kho bạc lên căn cứ địa Việt Bắc.
Cung với thăng trầm của lịch sử nhà máy in tiền đồn điền Chi Nê đã bị thay đổi và xuống cấp, nhiều di vật bị thất lạc. Thể theo nguyện vọng của nhân dân, UBND tỉnh Hòa Bình đã quyết định quy hoạch xây dựng khu di tích lịch sử Nhà máy in tiền.
Năm 2007, nhà máy in tiền đồn điền Chi Nê được Bộ Văn hóa,thể thao và du dịch xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đồng thời UBND tỉnh Hòa Bình đã có quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng Khu di tích lịch sử Nhà máy in tiền.
Tổng diện tích công trình là 15,5 ha với tổng mức đầu tư trên 270 tỷ đồng, tiến hành trong hai giai đoạn.
Giai đoạn một tổng mức đầu tư khoảng 61 tỷ đồng, giai đoạn hai tỉnh chủ trương đầu tư khoảng 210 tỷ đồng.
Năm 2010 nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập ngành Tài chính Việt Nam công trình Nhà In Đồn Điền Chi Nê được tiến hành khởi công xây dựng trên tổng diện tích là 15,5ha với 3 điểm di tích: “ Ngôi nhà trung tâm Đồn điền Chi Nê xưa”;  “ Khu xưởng in bạc” và  “Kho để tiền”.
Hiện nay, tại kho bạc đồn điền Chi Nê, ngôi nhà của gia đình ông Đỗ Đình Thiện, nơi Bác Hồ đã nghỉ lại ngày 21/2/1947 và căn hầm Bác ở vẫn được bảo vệ, giữ gìn nguyên vẹn.
 
HÒA BÌNH - Nhà Máy In Tiền Đồn Điền Chi Nê - ảnh 2
HÒA BÌNH - Nhà Máy In Tiền Đồn Điền Chi Nê - ảnh 3
HÒA BÌNH - Nhà Máy In Tiền Đồn Điền Chi Nê - ảnh 4
HÒA BÌNH - Nhà Máy In Tiền Đồn Điền Chi Nê - ảnh 5
HÒA BÌNH - Nhà Máy In Tiền Đồn Điền Chi Nê - ảnh 6
Một số hình ảnh Nhà máy in tiền đồn điền Chi Nê (nguồn: sưu tầm internet)
Đỗ Khắc Tình (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
tienphong.vn/Kinh-Te; tinmoi.vn/

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác