HƯNG YÊN - Đền Hoàng Bà

(Cinet-DL)- Đền được tạo dựng từ đầu thế kỷ XVII, thờ bà Trần Mã Châu, một vị nữ tướng tài ba đã có công lao to lớn, cùng Hai Bà Trưng đánh tan quân Tô Định, giành lại độc lập cho đất nước. Tuy là nữ nhi nhưng bà có chí khí như các bậc nam nhi, dũng lược đa mưu, tính cách phi thường. 
1. Tên di sản/Di tích: Đền Hoàng Bà.
HƯNG YÊN - Đền Hoàng Bà - ảnh 1

2. Thời gian: Đền được tạo dựng từ đầu thế kỷ XVII, thờ bà Trần Mã Châu, một vị nữ tướng tài ba đã có công lao to lớn, cùng Hai Bà Trưng đánh tan quân Tô Định, giành lại độc lập cho đất nước. Theo ngọc phả còn được lưu giữ tại đền, Trần Mã Châu hay còn được gọi là Châu Nương, con gái bộ chúa Trưởng Quan, ở đất Nam Xương (Hà Nam). Tuy là nữ nhi nhưng bà có chí khí như các bậc nam nhi, dũng lược đa mưu, tính cách phi thường. Sống trong cảnh nước mất nhà tan, nhân dân đau đớn quằn quại dưới gót giày quân xâm lược phương Bắc, cha của Châu Nương cũng bị chúng sát hại. Nung nấu trong lòng ý chí đền nợ nước, trả thù nhà, bà đã cắt tóc giả làm ni sư, đi khắp các chùa để chiêu mộ anh hùng hào kiệt, cùng đứng lên giết giặc cứu nước.
3. Năm công nhận: Năm 1997,  Nhà nước công nhận đền Hoàng Bà đã là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. 
4. Vị trí/Địa hình: Từ trung tâm thành phố Hưng Yên, xuôi theo đê sông Hồng về phía đôngkhoảng 3km, ta sẽ thấy một ngôi đền toạ lạc trên gò đất cao, quay về hướng đông nam. Bên phải là dòng sông Hồng cuộn chảy, bên trái là con đê bao quanh như một bức tường thành. Phía trước là cánh đồng, phía sau là xóm làng, thấp thoáng nhà mái ngói, mái bằng trong những vườn nhãn xum xuê xanh mướt. Đó là đền thờ Hoàng Bà, xã Quảng Châu (thành phố Hưng Yên).
5. Thổ nhưỡng: Đất đai trong tỉnh được hình thành do phù sa sông Hồng bồi đắp. Thành phần cơ giới của đất, từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha nhiễm chua. Có thể chia làm ba loại
Loại đất phù sa sông Hồng được bồi: Màu nâu thẫm, đất trung tính, ít chua, đây là loại đất tốt.
Loại đất phù sa sông Hồng không được bồi lắng: Loại này có tầng phù sa dày, thành phần cơ giới từ đất thịt trung bình đến đất thịt nặng, đất trung tính, ít chua.
Loại đất phù sa sông Hồng có tầng loang lổ, không được bồi lắng: Đất màu nâu nhạt, tầng phù sa mỏng, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, bị sét hóa mạnh, chất hữu cơ phân hủy chậm, thường bị chua. 
6. Khí hậu: Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc Bộ. Một năm có bốn mùa rõ rệt. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình 22 - 23oC, độ ẩm dao động lớn, từ 80 - 90%.
6.1.Mưa
Tổng lượng mưa trung bình năm tại Hưng Yên dao động trong khoảng 1.500mm - 1.600mm
Lượng mưa trong những tháng mùa mưa trung bình từ 1.200 mm đến 1.300 mm, bằng 80 - 85% tổng lượng mưa năm tại Hưng Yên
Mùa khô lượng mưa trung bình từ 200 - 300 mm chiếm khoảng 15 - 20% tổng lượng mưa năm.
Số ngày mưa trong năm trung bình khoảng 140 - 150 ngày, trong đó số ngày mưa nhỏ, mưa phùn chiếm khoảng 60 - 65 ngày.
Ngoài ra ở Hưng Yên còn xuất hiện mưa giông, là những trận mưa lớn đột xuất kèm theo gió lớn và giông sét. Mưa giông xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 11 và tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9
6.2.Nắng
Thời gian chiếu sáng trung bình năm khoảng 1.640 - 1.650 giờ
Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, số giờ nắng chiếm khoảng 1080 -1100 giờ
Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau số giờ nắng chiếm khoảng 500 - 520 giờ.
Số giờ nắng tháng cao nhất tuyệt đối 268 giờ (tháng 5 năm 1974)
Số giờ nắng tháng thấp nhất tuyệt đối 6,8 giờ (tháng 2 năm 1988).
7. Dân cư: Phần lớn người Việt cự ngụ ở Phố Hiến là từ các địa phương khác đổ về sinh sống làm ăn, đó là một cộng đồng cư dân tứ xứ. Bên cạnh cộng đồng người Việt, đông đảo người Hoa đã đến cư trú tại Phố Hiến. Địa điểm tụ cư đầu tiên của người Hoa ở Phố Hiến là Hoa Dương, sau gộp thêm các xã Hoa Điền (Lương Điền), Hoa Cái (Phương Cái) hợp thành Tam Hoa. Các cửa hiệu của Hoa Kiều được tập trung ở Phố Khách, phố Bắc Hoà, Nam Hoà; nhiều nhà xây gạch ngói. Họ xây dựng nhiều đình, đền, chùa, miếu, quảng hội thờ các vị nhân thần người Trung Quốc như Quan Vân Trường, Dương Qúy Phi, Lâm Tức Mặc. 
Khi việc buôn bán giữa phương Tây và Phố Hiến sa sút thì các Hoa thương vẫn trụ lại, gần như nắm giữ độc quyền các hoạt động ngoại thương. Lúc này cũng có hiện tượng một số Hoa thương ở Phố Hiến di cư ngược trở lại Thăng Long - Hà Nội, như trường hợp các gia đình họ Phan ở phố Hàng Ngang. Hiện nay, vẫn có tới 14 họ thuộc các Hoa Kiều sinh sống ở Phố Hiến - Hưng Yên như các họ Ôn, Tiết, Hoàng, Lý, Trần, Bạch, Quách, Mã, Thái, Hà, Hứa, Từ, Lâm, Khu.
Người Nhật cũng đã đến Phố Hiến từ rất sớm vào khoảng đầu thế kỷ XVII. Họ thường mang bạc, đồng đến mua đổi lấy các loại tơ hoặc vải lụa. Một số khác là các giáo sĩ và giáo dân Nhật Bản, có tên đạo theo chữ La Tinh, đã đi theo và phục vụ các giáo sĩ phương Tây tới Đàng Ngoài giảng đạo. Vì đã sinh sống lâu năm ở Việt Nam, những người Nhật này thường làm một số nghề như hoa tiêu dẫn tàu vào cửa sông, phiên dịch, môi giới… Tại Phố Hiến trước đây có một khu đất được gọi là Nghĩa trang Nhật Bản.
Phố Hiến ngoài người Trung Quốc và Nhật Bản còn có các thương nhân châu á khác đến buôn bán như Xiêm La, Mã Lai, Lữ Tống (Philíppin)... Phương Tây, ngoài người Hà Lan và người Anh đã từng lập thương điếm ở Phố Hiến, còn một số người Bồ Đào Nha và Pháp. Người Bồ Đào Nha là người phương Tây Phố Hiến sớm nhất.
Đó là những thương nhân độc lập, không lập công ty, không đặt thương điếm. Không ít những người Pháp cũng sống ở Phố Hiến vào những năm 80 của thế kỷ XVII. Thương điếm của Công ty ấn Độ Pháp thành lập ở Phố Hiến năm 1680.
Các lái buôn Hà Lan là những người phương Tây đặt thương điếm sớm nhất ở Phố Hiến. Những thập kỷ đầu, công việc buôn bán của thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến diễn ra khá suôn sẻ và được nhà nước Lê - Trịnh chiếu cố ưu tiên so với những người ngoại quốc khác. Sau khi cuộc chiến Trịnh - Nguyễn chấm dứt, chúa Trịnh dần tỏ thái độ lạnh nhạt với Hà Lan, lại thêm sự cạnh tranh của các lái buôn phương Tây khác, đặc biệt là người Anh. Người Anh đến Phố Hiến muộn hơn người Hà Lan. Trong những năm đầu, thương điếm Anh ở Phố Hiến làm ăn tương đối phát đạt, cạnh tranh với các đối thủ của mình như các thương nhân Hà Lan, Trung Quốc, một phần nhờ tài tháo vát, ứng xử khôn khéo của W. Gyfford.
8. Tóm tắt nội dung:- Giá trị lịch sử:
Đền được tạo dựng từ đầu thế kỷ XVII, thờ bà Trần Mã Châu, một vị nữ tướng tài ba đã có công lao to lớn, cùng Hai Bà Trưng đánh tan quân Tô Định, giành lại độc lập cho đất nước. Theo ngọc phả còn được lưu giữ tại đền, Trần Mã Châu hay còn được gọi là Châu Nương, con gái bộ chúa Trưởng Quan, ở đất Nam Xương (Hà Nam). Tuy là nữ nhi nhưng bà có chí khí như các bậc nam nhi, dũng lược đa mưu, tính cách phi thường. Sống trong cảnh nước mất nhà tan, nhân dân đau đớn quằn quại dưới gót giày quân xâm lược phương Bắc, cha của Châu Nương cũng bị chúng sát hại. Nung nấu trong lòng ý chí đền nợ nước, trả thù nhà, bà đã cắt tóc giả làm ni sư, đi khắp các chùa để chiêu mộ anh hùng hào kiệt, cùng đứng lên giết giặc cứu nước. Chùa làng Bảo Châu, nay thuộc xã Quảng Châu, là nơi được bà chọn làm căn cứ chiêu tập quân sĩ. Ái mộ đức cao tài rộng của Châu Nương, nghĩa sĩ quanh vùng đều về tụ hội. Ngay những ngày đầu Bảo Châu đã có nam tướng, nữ tốt được hơn 200 người. Ban ngày tụng kinh niệm Phật, ban đêm luyện tập binh pháp, quyết chiến với Tô Định. Sau khi được Trưng Trắc, Trưng Nhị thâu nạp, đón về để cùng đánh đuổi Tô Định. Thoả ý nguyện, Châu Nương trở về chốn cũ, chọn nơi hiểm yếu, thiết lập danh đồn tiếp tục chiêu mộ quân sĩ khắp nơi. Trong 3 tháng, quân tinh nhuệ đã lên tới 1.300 người. Châu Nương liền đem hùng binh tiến đến sông Hát Giang, yết kiến Trưng Nữ. Trưng Nữ vô cùng phấn khởi, liền giao cho Châu Nương làm thống quản 1000 kị mã, kiêm hành vệ quan tham tán mưu sự. Sau khi đánh đuổi được quân Nam Hán, Trưng Nữ lên ngôi hoàng đế, phong cho Mã Châu làm “Trưởng binh Nội các trung cung nội thị”, tặng thưởng kim ngân 100 hốt, gấm lụa 500 vuông và thuận cho đất Bảo Châu (nơi Mã Châu cư ngụ) làm lăng đền phụng sự sau khi nữ tướng qua đời. Tạ ơn vua, Châu Nương xin được trở về hương quán, thăm hỏi họ hàng thân thuộc, bái tạ gia đường tổ tiên. Xong việc bà trở về Bảo Châu nơi đồn cũ, nhân dân, hào mục nồng nhiệt đón mừng. Bà nói với mọi người rằng: “Nhờ công đức của nhân dân mà thành đạt, dù một ngày ân nghĩa cũng sâu nặng. Thật đáng khen dân ta phong tục thuần hậu lắm thay!". Lại ban thưởng vàng kim 60 hốt chia cho dân để ngày sau tu sửa đền miếu. Truyền quân sĩ mổ bò, lợn khao thưởng nhân dân.
Trưng Vương lên ngôi được 3 năm thì quân Nam Hán lại sang xâm lược nước ta. Trần Mã Châu được lệnh ra quân quyết chiến với giặc. Quân giặc bao vây tứ phía. Trên mình ngựa, tay cầm song kiếm, bà tả xung hữu đột, thây giặc ngổn ngang. Được nửa ngày, gió thổi làm lộ thân hình, tướng giặc biết đó là nữ liền hô to: “Sĩ tốt khoả thân mà đánh" khiến bà lúng túng, bị thương, quay ngựa chạy về đến Bảo Châu thì hoá. Đó là ngày 3.3 năm Ất Mùi (năm 43 sau CN). Dân làng nơi đây đã lập đền thờ, tế lễ để ghi công đức của Hoàng Bà. Cảm phục và thương xót bậc lương thần đã quên mình vì nước, Trưng Vương truy phong cho Bà là “Thượng đẳng Phúc thần" và chuẩn phê cho làng Bảo Châu là nơi đền chính, phụng sự tế tự.
Tương truyền đền Hoàng Bà rất linh thiêng. Các triều đại nối tiếp về sau đứng lên dẹp giặc, gây dựng cơ đồ đều được Châu Nương linh thiêng hiển ứng, âm phù giúp nước, nên lại được phong: “Thượng đẳng tối linh anh linh hiển ứng" . Đến nay đền còn giữ được 7 sắc phong qua các triều đại. Triều Lê Thái Tổ phong cho Bà là: “Phương Dung trinh thục mĩ nga nhân Uyển Huệ Hoà công chúa.” Gần đây nhất là triều Khải Định năm thứ 4 (tháng 7 năm 1919), sắc phong cho Bà là: “Trinh tĩnh Trung đẳng thần".
Suốt chiều dài lịch sử, trải bao biến cố thăng trầm, đối diện với thiên nhiên dữ dội và khắc nghiệt, đền Hoàng Bà đã nhiều lần phải trùng tu tôn tạo, song vẫn luôn giữ được nét xưa; uy nghi, giản dị, thanh tao. Hiện đền còn giữ được khá nhiều hiện vật quý giá, như: kiệu bát cống, kiệu võng, kiệu Bà, đại tự, hoành phi, câu đối, ca ngợi công đức Hoàng Bà với nhiều nội dung sâu sắc. Cung đệ nhị ngoài tiền đường là bức đại tự gồm bốn chữ: “Từ Quang Phả Bị" (nghĩa là: Nàng phi phàm này đã quy Phật có ánh từ quang chiếu khắp, phổ độ 4 cõi). Cũng tại đây có đôi câu đối: “Quốc xỉ phục thù Tô thủ tội, chung dung nhất kiếm – Nhân thần nữ kiệt Trưng Vương danh cộng thám thiên hoa". (Nghĩa là: Rửa hận Cha, thẹn thùng mất nước, tên Tô Định tham tàn, muốn tìm ngươi cho một nhát kiếm – Người là bậc thần và người nữ oanh kiệt thời Trưng Vương nổi tiếng, tham mưu danh luận, nghìn vẻ dáng như hoa). Đặc biệt, đền còn giữ được bức tượng Hoàng Bà bằng gỗ quý rất đẹp từ thời Bà còn sống, đúng như lời một đôi câu đối ca ngợi: “Bảo sắc đằng không lâm Việt địa – Kim dung phóng diệu chiếu Nam thiên". ( Nghĩa là: Sắc đẹp đã tôn màu vẻ bay khắp không trung, chọn nơi giáng sinh là đất Việt – Hình dung vàng ngọc chiếu khắp trời Nam, toả ra nhiều nét thiêng).
Năm 1997, đền Hoàng Bà đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Hàng năm, đền mở hội từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 3 âm lịch. Con em quê hương ở khắp mọi nơi cùng khách thập phương nô nức về dự hội, tưởng nhớ người nữ tướng anh hùng của dân tộc và ôn lại truyền thống chống ngoại xâm của ông cha ta. Phần lễ, sau khai mạc của ban tổ chức vào sáng mồng 1, là các đoàn tế trong và ngoài xã dâng hương, theo đó là cán bộ nhân dân các thôn, các dòng họ cùng khách thập phương dâng lễ, chiêm bái nhất tâm nguyện cầu cho mưa hoà, gió thuận, mùa màng tốt tươi, bốn phương vô sự, nhân dân ấm no hạnh phúc. Phần hội có các trò chơi dân gian, như: chọi gà, cờ tướng, múa gậy, đánh đu, giao lưu văn nghệ với nhiều tiết mục múa hát dân ca quan họ, chèo đặc sắc, ca ngợi công đức Hoàng Bà, truyền thống quê hương, đất nước. Cứ 2 năm lại tổ chức một lần rước, có múa rồng, kỳ lân, rước kiệu bát cống, kiệu Bà, với nhiều nghi thức uy nghi, lộng lẫy, hoành tráng.
Theo cụ Dương Công Uẩn, Chủ tịch Hội Người cao tuổi của xã cho biết: “Được sự quan tâm của lãnh đạo, chính quyền các cấp cùng với lòng thiện tâm công đức của đông đảo bà con nhân dân, với nguồn kinh phí trên 2,5 tỉ đồng, đến nay đền đã hoàn thành việc trùng tu tôn tạo, ngôi đền đã được đẹp đẽ, bề thế, khang trang, đáp ứng nguyện vọng, lòng mong mỏi từ lâu của nhân dân trong xã. Lễ hội năm 2012 sẽ được tổ chức cùng với lễ cắt băng khánh thành trùng tu, tôn tạo đền, có tổ chức rước kiệu với nhiều nghi thức cổ truyền".
Đây mãi sẽ là nơi tôn vinh, tri ân công đức của Hoàng Bà – vị nữ anh hùng dân tộc trong buổi đầu dựng nước, nơi bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc cho muôn đời con cháu mai sau.
 
HƯNG YÊN - Đền Hoàng Bà - ảnh 2
HƯNG YÊN - Đền Hoàng Bà - ảnh 3HƯNG YÊN - Đền Hoàng Bà - ảnh 4
HƯNG YÊN - Đền Hoàng Bà - ảnh 5
HƯNG YÊN - Đền Hoàng Bà - ảnh 6
Một số ảnh chùa (nguồn: sưu tầm internet)
Đỗ Khắc Tình (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
http://baohungyen.vn; http://www.tinmoi.vn; http://www.dulichvietnam.com.vn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác