HƯNG YÊN - Văn Miếu Xích Đằng

(Cinet-DL)- Văn Miếu Xích Đằng là một trong những công trình còn giữ được những nét kiến trúc độc đáo trong các văn miếu còn lại ở Việt Nam.Được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm, hai tầng tám mái có lầu gác. Hiện nay, Văn Miếu Xích Đằng chỉ còn lại 2 mộ tháp đá: Phương Trượng Tháp và Tịnh Mãn Tháp.
1. Tên di sản/Di tích: Văn miếu Xích Đằng.
HƯNG YÊN - Văn Miếu Xích Đằng - ảnh 1

2. Thời gian: Văn miếu Xích Đằng được xây dựng vào năm 1832, sở dĩ  có tên gọi như vậy vì được xây dựng trên đất làng Xích Đằng, xưa kia là văn miếu của trấn Sơn Nam.
Với quy mô ban đầu nhỏ, được trùng tu, xây dựng lại vào năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) dưới triều Nguyễn. Văn Miếu Xích Đằng hiện này nằm trên nền của chùa Nguyệt Đường, làng Xích Đằng, xã Nhân Dục, tổng An Tảo, huyện Kim Độn xưa, nay là phường Lam Sơn, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Văn miếu Xích Đằng là một trong 6 văn miếu còn tồn tại trong cả nước- được khởi dựng từ thế kỷ 17 (thời hậu Lê).
3. Năm công nhận: Năm 1992, Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Văn miếu Hưng Yên là di tích lịch sử văn hoá quốc gia.
4. Vị trí/Địa hình: Thuộc địa phận thôn Xích Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, Văn miếu Xích Đằng hay còn gọi là Văn miếu Hưng Yên là một di tích quan trọng trong quần thể di tích Phổ Hiến.
5. Thổ nhưỡng: Đất đai trong tỉnh được hình thành do phù sa sông Hồng bồi đắp. Thành phần cơ giới của đất, từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha nhiễm chua. Có thể chia làm ba loại:
Loại đất phù sa sông Hồng được bồi: Màu nâu thẫm, đất trung tính, ít chua, đây là loại đất tốt.
Loại đất phù sa sông Hồng không được bồi lắng: Loại này có tầng phù sa dày, thành phần cơ giới từ đất thịt trung bình đến đất thịt nặng, đất trung tính, ít chua.
Loại đất phù sa sông Hồng có tầng loang lổ, không được bồi lắng: Đất màu nâu nhạt, tầng phù sa mỏng, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, bị sét hóa mạnh, chất hữu cơ phân hủy chậm, thường bị chua. 
6. Khí hậu: Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc Bộ. Một năm có bốn mùa rõ rệt. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình 22 - 23oC, độ ẩm dao động lớn, từ 80 - 90%.
1. Mưa
Tổng lượng mưa trung bình năm tại Hưng Yên dao động trong khoảng 1.500mm - 1.600mm.
Lượng mưa trong những tháng mùa mưa trung bình từ 1.200 mm đến 1.300 mm, bằng 80 - 85% tổng lượng mưa năm tại Hưng Yên
Mùa khô lượng mưa trung bình từ 200 - 300 mm chiếm khoảng 15 - 20% tổng lượng mưa năm.
Số ngày mưa trong năm trung bình khoảng 140 - 150 ngày, trong đó số ngày mưa nhỏ, mưa phùn chiếm khoảng 60 - 65 ngày.
Ngoài ra ở Hưng Yên còn xuất hiện mưa giông, là những trận mưa lớn đột xuất kèm theo gió lớn và giông sét. Mưa giông xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 11 và tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9.
2. Nắng
Thời gian chiếu sáng trung bình năm khoảng 1.640 - 1.650 giờ.
Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, số giờ nắng chiếm khoảng 1080 - 1100 giờ.
Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau số giờ nắng chiếm khoảng 500 - 520 giờ.
Số giờ nắng tháng cao nhất tuyệt đối 268 giờ (tháng 5 năm 1974).
Số giờ nắng tháng thấp nhất tuyệt đối 6,8 giờ (tháng 2 năm 1988).
7. Dân cư: Mạch máu giao thương của Phố Hiến là sông Xích Đằng - đoạn sông Nhị Hà chảy sát Phố Hiến. Đây là nơi trung chuyển và là điểm tụ hội của những đoạn đường sông từ biển Đông vào tới kinh thànhThăng Long như tuyến Đàng Ngoài, nhiều tuyến sông khác. Bến cảng Phố Hiến là nơi các tàu thuyền ngoại quốc lưu đỗ để làm thủ tục kiểm soát và xin giấy phép đi tiếp tới Kinh đô. Cùng với bến cảng sông là một các khu chợ khá sầm uất như chợ Vạn ở bến Xích Đằng, chợ Hiến bên cạnh lị sở Sơn Nam, chợ Bảo Châu... Những chợ này đã vượt khỏi khuôn khổ những chợ địa phương để chở thành các chợ liên vùng. Thuyền bè từ Thăng Long - Kẻ Chợ và các trấn gần xa trong nước cũng như nước ngoài đã đến đây buôn bán, trao đổi hàng hoá.
Khu phường phố là khu định cư của người Việt và các kiều dân ngoại quốc (chủ yếu là người Hoa) sản xuất và buôn bán với tính chất cố định ở Phố Hiến. Dựa theo các văn bia ở chùa Hiến (1709) và chùa Chuông (1711), Phố Hiến thời đó có khoảng 20 phường  Qua các bi ký, có thể đọc được 13 phố và 32 tên cửa hiệu buôn bán như các Tân Thị, Tân Khai, Tiên Miếu, Hậu Trường…
Phần lớn người Việt cự ngụ ở Phố Hiến là từ các địa phương khác đổ về sinh sống làm ăn, đó là một cộng đồng cư dân tứ xứ. Bên cạnh cộng đồng người Việt, đông đảo người Hoa đã đến cư trú tại Phố Hiến. Địa điểm tụ cư đầu tiên của người Hoa ở Phố Hiến là Hoa Dương, sau gộp thêm các xã Hoa Điền (Lương Điền), Hoa Cái (Phương Cái) hợp thành Tam Hoa. Các cửa hiệu của Hoa Kiều được tập trung ở Phố Khách, phố Bắc Hoà, Nam Hoà; nhiều nhà xây gạch ngói. Họ xây dựng nhiều đình, đền, chùa, miếu, quảng hội thờ các vị nhân thần người Trung Quốc như Quan Vân Trường, Dương Qúy Phi, Lâm Tức Mặc. 
Khi việc buôn bán giữa phương Tây và Phố Hiến sa sút thì các Hoa thương vẫn trụ lại, gần như nắm giữ độc quyền các hoạt động ngoại thương. Lúc này cũng có hiện tượng một số Hoa thương ở Phố Hiến di cư ngược trở lại Thăng Long - Hà Nội, như trường hợp các gia đình họ Phan ở phố Hàng Ngang. Hiện nay, vẫn có tới 14 họ thuộc các Hoa Kiều sinh sống ở Phố Hiến - Hưng Yên như các họ Ôn, Tiết, Hoàng, Lý, Trần, Bạch, Quách, Mã, Thái, Hà, Hứa, Từ, Lâm, Khu.
8. Tóm tắt nội dung: - Giá trị lịch sử
Văn Miếu Xích Đằng là một trong những công trình còn giữ được những nét kiến trúc độc đáo trong các văn miếu còn lại ở Việt Nam.
Được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm, hai tầng tám mái có lầu gác. Hiện nay, Văn Miếu Xích Đằng chỉ còn lại 2 mộ tháp đá: Phương Trượng Tháp và Tịnh Mãn Tháp.
Sau khi đi qua hồ Văn, đầm Vạc sẽ đến trước tam quan, hay còn gọi là Nghi môn. Hai bên tam quan có hai bục loa, dùng để xướng danh sĩ tử và thông báo những quy định trong các kỳ thi hương trước đây.
Toàn bộ khuôn viên Văn miếu nhìn ra hướng nam, có diện tích rộng gần 6 ha, phía trước là đầm Vạc, bên cạnh phía tây là hồ Văn.
Toàn cảnh kiến trúc công trình đồng bộ và liền mạch, gồm các hạng mục được bố trí liên hoàn như: tam quan, nhà tả vu, nhà hữu vu, tòa đại bái, trung từ và tòa hậu cung.
Cổng nghi môn được xây dựng đồ sộ, bề thế, phía trong cổng có sân rộng, ở giữa sân là đường thập đạo, hai bên sân có lầu chuông và lầu khánh cùng 2 dãy tả vu, hữu vu.
Khu nội tự có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam theo thứ tự gồm: tiền tế, trung từ và hậu cung, kiến trúc giống nhau, được làm theo kiểu vì kèo trụ trốn.
Toàn bộ khu nội tự Văn miếu tỏa sáng bởi hệ thống đại tự, câu đối, cửa võng và hệ thống kèo cột đều được sơn thếp phủ hoàn kim.
Hệ thống mái các tòa được thiết kế theo kiểu "Trùng thiềm điệp ốc". Mặt chính quay về hướng nam. Bên trong khu nội tự tỏa sáng với hệ thống các đại tự, câu đối, cửa võng và một hệ thống các trụ cột, kèo được sơn son thếp vàng. 
Ngoài các đồ thờ tự, hiện vật quý giá nhất trong văn miếu còn lưu giữ được đến ngày nay đó chính là 9 tấm bia đá khắc ghi tên tuổi, quê quán, chức vụ của 161 vị đỗ đại khoa ở trấn Sơn Nam thượng xưa. Trong đó có 138 vị  quê Hưng Yên và 23 vị ở Thái Bình.
Hiện nay, Văn Miếu Xích Đằng cong lưu giữ 9 tấm bia đá, trong đó 8 bia được lập năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), một bia được lập năm Bảo Đạithứ 18 (1943) ghi danh các nhà khoa bảng Hưng Yên.
Trên mỗi bia đá được khắc từ thời Trần đến năm 1919 (khoa thi cuối cùng khoa cử nho học ) có 138 vị đỗ đại khoa, trong đó có 21 vị nay thuộc địa phận tỉnh Thái Bình (phủ Tiên Hưng trước kia thuộc Hưng Yên, nay thuộc Thái Bình).
Học vị cao nhất vào thời điểm bấy giờ là Trạng nguyên Tống Trân, người thôn An Cầu, huyện Phù Cừ, đời Trần, Trạng nguyên Nguyễn Kỳ người xã Bình Dân, huyện Khoái Châu, triều Mạc. Chức vụ cao nhất là Lê Như Hổ, quận công triều Mạc.
Văn miếu Xích Đằng là nơi tổ chức các kỳ thi, bái tế các bậc hiền nho vào mỗi dịp “xuân thu nhị kỳ” hằ̀ng năm như: ngày mùng 10 tháng giêng và 14 tháng 8 âm lịch, các chức sắc đầu tỉnh và nho sinh của toàn trấn Sơn Nam và tỉnh Hưng Yên sau này tổ chức tế lễ, đồng thời thi bình văn, ngay từ khi được xây dựng vào thế kỷ 17 dưới thời Lê và đến hết thời nhà Nguyễn sau này.
 
HƯNG YÊN - Văn Miếu Xích Đằng - ảnh 2
HƯNG YÊN - Văn Miếu Xích Đằng - ảnh 3
HƯNG YÊN - Văn Miếu Xích Đằng - ảnh 4
HƯNG YÊN - Văn Miếu Xích Đằng - ảnh 5
Quang cảnh Văn Miếu Xích Đằng (nguồn: sưu tầm internet)

Đỗ Khắc Tình (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

dulich.vnexpress.net/; https://vi.wikipedia.org; hungyentv.vn; http://www.hungyentv.vn/phohien

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác