KIÊN GIANG – Nhà tù Phú Quốc

(Cinet-DL)-Nhà tù Phú Quốc được biết đến với cái tên khác là “Nhà Lao Cây Dừa” nằm tại thị trấn  An Thới, huyện Phú Quốc. Tại đây trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã giam cầm hàng trăm tù nhân với những hình thức tra tấn dã man, đầy man rợ.
1.Tên Di sản/Di tích: Nhà Tù Phú Quốc
2.Thời gian: Nhà tù Phú Quốc được thực dân Pháp xây dựng năm 1953, tại thị trấn An Thới, lúc này có tên gọi là Nhà lao Cây Dừa, diện tích khoảng 40 ha.
Trong chiến tranh Đông Dương có khoảng 14.000 chiến sĩ cộng sản Việt Nam bị Pháp giam giữ đưa về đây. Khoảng 200 người đã vượt ngục thành công và 99 hi sinh do bị tra tấn, bệnh tật…
3. Năm công nhận: Ngày 31 tháng 12 năm 2014. Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 2408/QĐ-TTg,công nhận Nhà tù Phú Quốc là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt.
4. Địa Hình/ Vị trí: Nhà tù Phú Quốc được biết đến với cái tên khác là “Nhà Lao Cây Dừa” nằm tại thị trấn  An Thới, huyện Phú Quốc. Tại đây trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã giam cầm hàng trăm tù nhân với những hình thức tra tấn dã man, đầy man rợ.
5. Thổ nhưỡng: Kiên Giang có đủ các dạng địa hình từ đồng bằng, núi rừng và biển đảo. Trong đó, phần đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ đông bắc xuống tây nam.
Khu bảo tồn biển Phú Quốc gồm 2 khu vực: khu phía đông Bắc, đông Nam đảo Phú Quốc và khu phía Nam quần đảo An Thới. Diện tích mặt nước của khu bảo tồn biển là 26.863,17 ha, trong đó vùng bảo vệ nghiêm ngặt 2.952,45 ha, vùng phục hồi sinh thái rộng 13.592,95 ha và vùng phát triển 10.317,77 ha. Ở Bắc đảo là vùng thảm cỏ biển rộng lớn thuộc 2 xã Hàm Ninh và Bãi Thơm, phía Nam đảo có những rặng san hô nằm quanh các hòn đảo An Thới thuộc xã Hòn Thơm, huyện Phú Quốc.
Vùng biển Phú Quốc được đánh giá là ngư trường giàu có với tổng trữ lượng cá phân bố ước đạt khoảng 464.000 tấn. Trong đó trữ lượng cá nổi chiếm khoảng 51%, 239.000 tấn; cá đáy và cá rạn san hô chiếm khoảng 49%, 255.000 tấn. Ngoài nhóm cá vùng biển Phú Quốc còn chứa đựng nhiều nhóm hải sản có giá trị khác như tôm, mực, ghẹ, ốc nhảy, trai ngọc, sò huyết, sò lông, nghêu lụa, bạch tuộc, hải sâm, cá ngựa…hàng năm được khai thác với sản lượng lớn tạo nguồn thu nhập và công ăn việc làm cho người dân trên đảo và khu vực lân cận. Những đối tượng hải sản này thường được khai thác ở vùng ven các đảo, trong các rạn san hô, thảm cỏ biển và vùng nước lân cận.
Riêng hệ sinh thái rạn san hô, qua ghi nhận có 252 loài thuộc 49 giống và 14 họ san hô cứng, 19 loài san hô mềm với tổng diện tích là 473,9 ha, phân bố chủ yếu tập trung quanh các đảo ở phía Nam quần đảo An Thới với diện tích 362,2 ha chiếm 76% tổng diện tích.
Phú Quốc là một trong 2 địa phương tại Việt Nam có sự phân bố của hệ sinh thái thảm cỏ biển, tại đây ghi nhận có 9 loài cỏ biển, phân bổ ở phía Đông đảo, một ít ở Bắc và Nam đảo với tổng diện tích 10.600 ha.
Do đặc điểm hệ sinh thái rạn san hô và thảm cỏ biển, điều kiện thích hợp làm nơi cư trú và cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho các loài cá sống ở rạn, tại đây có 152 loài cá thuộc 71 giống và 31 họ, trong đó các họ có giá trị kinh tế cao như cá mú 13 loài, cá mó 11 loài, cá dìa 8 loài, 7 loài cá hồng, 8 loài cá đổng…Tảo biển có 98 loài thuộc 51 giống, trong đó có 31 loài tảo đỏ, tảo lục và tảo nâu. Động vật thân mềm có 132 loài thuộc 3 giống của 35 họ thân mềm sinh sống trong rạn san hô, phổ biến nhất là ốc dụn, ngọc trai, trai tai tượng vảy. Da gai có 32 loài thuộc 23 giống của 15 họ da gai, trong đó hải sâm là phong phú nhất. Đặc biệt tại vùng biển này ghi nhận có sự xuất hiện của dugong (cá cúi), rùa biển, cá heo…đây là những loài có tên nằm trong danh mục bị đe dọa tuyệt chủng. Mặc dù rạn san hô của vùng lõi khu bảo tồn biển Phú Quốc vẫn còn trong tình trạng khá tốt, tuy nhiên rất nhiều trong số đó đã bị hủy hoại do khai thác thủy sản trong quá khứ. Vùng cỏ biển Đông Bắc đảo Phú Quốc mật độ dày với nhiều loài cá… cũng bị phá hủy do tác động khai thác thủy sản. Các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng như dugong, rùa biển bị săn bắt làm thức ăn, làm đồ lưu niệm chưa được ngăn chặn hiệu quả.
6. Khí hậu: Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm. Mưa, bão tập trung vào từ tháng 8 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình hàng năm là 2.146,8mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26,40C đến 280C, tháng lạnh nhất là tháng 12; không có hiện tượng sương muối xảy ra. Kiên Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa. Điều kiện khí hậu thời tiết của Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản mà các tỉnh khác ở vùng ĐBSCL không có được như: ít thiên tai, không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi sinh trưởng.
7.Dân cư: Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Kiên Giang đạt gần 1.726.200 người, mật độ dân số đạt 272 người/km Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 471.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.255.000 người. Dân số nam đạt 861.600 người, trong khi đó nữ đạt 852.500 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 10,8 ‰
Về dân tộc và tôn giáo, Kiên Giang là địa bàn cư trú của hơn 15 dân tộc khác nhau. Trong đó, người Kinh chiếm khoảng 85,5%, Người Khmer chiếm khoảng 12,2% dân số tập trung chủ yếu ở các huyện Châu Thành, Gò Quao. Người Hoa chiếm khoảng 2,2% dân số sinh sống ở thành phố Rạch Giá và huyện Châu Thành. Còn lại là một số dân tộc khác như: Chăm, Tày, Mường, Nùng.... Về tôn giáo, theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, trên địa bàn tỉnh có 489.609 người theo tôn giáo, chiếm khoảng 32,7% tổng số dân, trong đó Phật giáo chiếm 25%, Công giáo chiếm 5,7%, còn lại là các tôn giáo khác như Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi giáo.....
8. Tóm tắt nội dung: Đây là trại giam tù binh trung tâm toàn Việt Nam Cộng hòa, từng giam giữ hơn 32.000 tù binh (40.000 tù nhân nếu tính cả tù chính trị nhiều thời kỳ).
Trong Chiến tranh Việt Nam, tù binh chiến tranh tại Trại giam tù binh Phú Quốc đã phải chịu những hình phạt, tra tấn như đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố chế nước sôi hoặc đổ lửa than, ném vào chảo nước sôi, thiêu sống, chôn sống… Trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6/1967 đến 3/1973) trại giam tù binh Phú Quốc, có hơn 4.000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật tàn phế.
Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc có tất cả là 12 khu (năm 1972) được đánh số từ khu 1 đến khu 12. Riêng khu 13, 14 được xây dựng thêm vào cuối năm 1972. Mỗi khu trại giam có khả năng chứa khoảng 3000 tù nhân. Năm 1972, có khoảng 12x 3000 = 36 000 tù nhân. Mỗi khu trại giam lại được chia làm nhiều phân khu. Thường thì có 4 phân khu, trong 1 khu. Một phân khu chứa được 950 tù binh. Riêng phân khu B2 dành riêng để giam giữ các sĩ quan. Tù binh có cấp bậc lớn nhất là Thượng tá. Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc do 3 tiểu đoàn quân cảnh (7, 8, 12) canh giữ.
Ngoài ra, Phú Quốc cũng có một trại giam tù hình sự, giam giữ những tù nhân thường phạm bị kết án 10 năm trở lên, ở thị trấn Dương Đông, mặt tây của đảo.
Tuy nhiên,chính quyền Việt Nam Cộng Hòa luôn tuyên bố rằng tù binh tại đây đều được đối xử rất nhân đạo khi họ luôn đưa ra những bức ảnh tù binh Cộng Sản được chăm sóc y tế đầy đủ,ăn uống không thiếu thốn,tham gia vui chơi giải trí và lao động sản xuất.
Cuối năm 1949 đầu năm 1950, quân của Trung Hoa Quốc dân đảng thua trận trước Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, rút chạy dạt sang Việt Nam. Lực lượng này có trên 3 vạn người, được Pháp đưa ra đóng tại phía Nam đảo Phú Quốc một thời gian trước khi quay về Đài Loan theo Tưởng Giới Thạch.
Tận dụng nhà cửa có sẵn của trại lính Quốc dân đảng, quân Pháp lập một trại giam tù binh trên một diện tích gần 40 hécta, gọi là "Căng Cây Dừa" (Trại Cây Dừa). Trại gồm 4 khu nhà giam A, B, C, D. Các tù binh cộng sản bị Pháp bắt từ các chiến trường Trung, Nam, Bắc Việt Nam bị tập trung đưa ra trại giam này ở Phú Quốc. Số tù binh này gồm khoảng 14.000 người, đa số từ nhà tù Đoạn Xá (Hải Phòng). Cũng như tại các nhà tù khác trong Chiến tranh Đông Dương, tù nhân cộng sản tại Trại Cây Dừa sinh hoạt đấu tranh chống khủng bố, đàn áp, và tổ chức vượt ngục. Sau hơn 1 năm ở trại, có 99 tù nhân bị chết, 200 người vượt ngục.
Tháng 7 năm 1954, sau Hiệp định Genève, Pháp trao trả cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hầu hết tù binh ở trại này.
Cuối năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng một trại giam ở địa điểm Căng Cây Dừa cũ, với diện tích rộng 4 ha, đặt tên là Trại huấn chính Cây Dừa, còn gọi là Nhà lao Cây Dừa. Trại tù có nhà giam tù nam, nhà giam tù nữ, nhà giam phụ lão. Ngày 2 tháng 1 năm 1956, 598 người tù từ trại Trung tâm huấn chính Biên Hòa được đưa đến đề lao Gia Định, rồi đưa xuống tàu vận tải Hắc Giang của hải quân chở từ Sài Gòn về đến Phú Quốc. Về sau còn có thêm một số tù chính trị thuộc diện "Việt Cộng" hoặc "thân Cộng" cũng được đưa đến Trại huấn chính Cây Dừa.
Trong 7 tháng, từ tháng 2 đến tháng 9 năm 1956, có khoảng 100 tù nhân vượt ngục, trong đó có một số người bị bắn chết khi vượt rào. Các ông Phạm Văn Khỏe (em ruột của Phạm Hùng), và Mai Thanh (Tỉnh ủy viên, Bí thư Thị ủy Rạch Giá) cũng vượt ngục trong thời gian này. Thấy tình hình bất ổn, năm 1957, chính quyền Sài Gòn đưa số tù chính trị ở "Trại huấn chính Cây Dừa" về đất liền, và đày một số ra nhà tù Côn Đảo.
Khi chiến tranh Việt Nam leo thang, số tù binh và tù chính trị tăng cao, chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng thêm nhiều trại giam tù binh ở Biên Hòa, Pleiku, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quy Nhơn... Tại Phú Quốc, năm 1966, một trại giam rộng hơn 400 ha được xây dựng ở thung lũng An Thới, cách "Căng Cây Dừa" cũ 2 km. Trại giam gồm 12 khu, mỗi khu có 4 phân khu A, B, C, D, với trên 400 nhà giam, được gọi là Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam / Phú Quốc, thường được gọi là Trại giam tù binh Phú Quốc. Mỗi phân khu, ngoài 9 phòng để tù binh ở, có 2 phòng để thẩm vấn, phạt vạ hoặc biệt giam tù binh... Tất cả 11 phòng đều có cấu trúc vì kèo sắt, nóc tôn, vách tôn, mỗi phòng bề ngang 5 mét, dài 20 mét, hai đầu chừa hai lối ra vào, bề ngang khoảng 8 tấc và mỗi bên vách tôn có 4 cửa sổ, dưới vách tôn có khoảng trống chừng 3 tấc, có rào dây kẽm gai. Để canh gác khu trại giam, chung quanh mỗi khu giam có một pháo đài canh gác có đặt súng đại liên; tại cổng chính của khu giam có 2 vọng gác; một vọng tổng kiểm soát đốc canh, 2 giờ thay phiên gác một lần, liên tục 24/24 giờ; hai xe tuần tra liên tục quanh khu giam; ban đêm còn có các toán vào vòng rào giới hạn để kiểm soát lưu động tại các phân khu và 10 vọng gác di động. Đứng đầu ban chỉ huy trại giam là một trung tá hoặc đại úy (có lúc là một chuẩn tướng) Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đằng sau là một cố vấn Mỹ. Lực lượng canh giữ trực tiếp trại giam gồm có 4 tiểu đoàn quân cảnh, một liên đội địa phương quân, một đại đội công binh, một đơn vị hải thuyền và một đội quân khuyển.
Nhà tù Phú Quốc trở thành trại giam tù binh trung tâm toàn Việt Nam Cộng hòa, giam giữ hơn 32.000 tù binh (40.000 tù nhân nếu tính cả tù chính trị nhiều thời kỳ). Có khoảng 12.000 tù nhân là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, trong đó có khoảng 9000 người từ miền Bắc. Có trên 20.000 tù nhân là dân quân du kích xã, ấp và cán bộ chính trị. Có hơn 2.000 sĩ quan, hạ sĩ quan; trên 100 tù nhân là cán bộ cộng sản có trình độ chính trị trung cấp, sơ cấp (trong đó có 10 tỉnh ủy viên, trên 40 huyện ủy viên) và trên 200 chi ủy viên. Vào tháng 5-1969 tù binh đã tổ chức vượt ngục thành công tại khu B2.
KIÊN GIANG – Nhà tù Phú Quốc - ảnh 1
KIÊN GIANG – Nhà tù Phú Quốc - ảnh 2
KIÊN GIANG – Nhà tù Phú Quốc - ảnh 3
KIÊN GIANG – Nhà tù Phú Quốc - ảnh 4
KIÊN GIANG – Nhà tù Phú Quốc - ảnh 5
Một số hình ảnh Nhà tù Phú Quốc (Nguồn: internet)

Đỗ Khắc Tình (Tổng Hợp)
Nguồn Tham khảo: 
http://cand.com.vn/vanhoa vi.wikipedia.org/wiki/Kiên_Giang;  http://www.hatien24h.info;  http://phuquocnews.vn/

 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác