KIÊN GIANG - Thạch Động

(Cinet-DL)- Đá vôi Thạch Động được các nhà địa chất xác định hình thành vào kỷ Permi, khoảng 250 triệu năm trước. Loại đá vôi này chủ yếu có nguồn gốc trầm tích hóa học, không phải là loại đá trầm tích sinh học như đá vôi cùng tuổi ở miền Bắc.
1. Tên di sản/Di tích: Thạch Động.
KIÊN GIANG - Thạch Động - ảnh 1

2. Thời gian: Đá vôi Thạch Động được các nhà địa chất xác định hình thành vào kỷ Permi, khoảng 250 triệu năm trước. Loại đá vôi này chủ yếu có nguồn gốc trầm tích hóa học, không phải là loại đá trầm tích sinh học như đá vôi cùng tuổi ở miền Bắc. Loại đá vôi kiểu Thạch Động còn phổ biến ở vùng ven biển huyện Kiên Lương, và lan sang cả phía tây nam  Campuchia và nam Thái Lan, nghĩa là nằm hoàn toàn về phía tây-nam đứt gãy Sông Hậu. Vào những năm 1980, các nhà địa chất Thái Lan đã tìm được nhiều hóa thạch động vật Tay cuộn (Brachiopoda) tuổi Permi trong các đá vôi giống như đá vôi Thạch Động, cũng nằm ở phần tây nam hệ đứt gãy Sông Hậu kéo dài (Thái lan gọi là đứt gãy Maeping, kéo dài lên tận các bang Shan của Myanma). Kết quả phân tích cho thấy đây là nhóm động vật Tay cuộn nước lạnh có nguồn gốc Châu Úc. Các nhà địa chất Viện Hàn Lâm Pháp cũng tính toán rằng trong lịch sử, phần tây nam đứt gãy Sông Hậu (miền Tây Nam Bộ và tây nam Campuchia) đã dịch trượt tương đối về phía đông nam chừng 300 km.Quá trình dịch trượt này được gây ra do sức ép của Tiểu lục địa Ấn Độ (cũng có nguồn gốc Châu Úc) khi“ trôi” về phía Bắc để hình thành Ấn Độ Dương. Điều đó có nghĩa là nếu ta dịch chuyển miền Tây Nam Bộ theo đứt gãy Sông Hậu ngược về phía tây bắc chừng 300 km thì có thể thấy các loại đá của miền Tây Nam Bộ ghép nối hoàn hảo với miền Xiêm Riệp của Campuchia và dãy Dangrek giáp cao nguyên Khorạt của Thai Lan nằm ở phần đông bắc đứt gãy này. Như vậy đá vôi Thạch động là chứng nhân lịch sử về cuộc thiên di vĩ đại của một vùng đất trôi dạt từ Châu Úc lên và sau đó dịch trượt một quãng đường dài về phía đông nam theo đứt gãy sông Hậu.
3. Năm công nhận: Ngày 21 tháng 01 năm 1989, Nhà nước ra quyết định số 100- VH/QĐ công nhận Thạch Động  là Danh thắng cấp quốc gia. 
4. Vị trí/Địa hình: Thạch động nằm bên Quốc lộ 80, cách thị xã Hà Tiên khoảng 3,5km, trên đường đi đến cửa khẩu Xà Xía. Núi có hình chiếc mũ lông. Đó là một khối đá vôi dựng đứng, cao 93m so với mực nước biển. Từ dưới nhìn lên, vách núi có nhiều thạch nhũ có hình thù kỳ quái, trong đó có một thạch nhủ giống như bầu vú có nước nhỏ giọt quanh năm như dòng sữa mẹ.
5. Thổ nhưỡng: Kiên Giang có đủ các dạng địa hình từ đồng bằng, núi rừng và biển đảo. Trong đó, phần đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ đông bắc xuống tây nam. Do nằm ở vĩ độ thấp và giáp biển nên Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 27 – 27,50C. Kiên Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.600 – 2.000 mm ở đất liền và 2.400 – 2.800 mm ở vùng đảo Phú Quốc. Khí hậu Kiên Giang rất ít thiên tai, không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi sinh trưởng.
Kiên Giang có 4 vùng đất đai chính là vùng phù sa ngọt thuộc tây sông Hậu, vùng phèn ngập lũ thuộc tứ giác Long Xuyên, vùng nhiễm mặn thuộc bán đảo Cà Mau và vùng đồi núi, hải đảo ở hai huyện Phú Quốc và Kiên Hải. Trong đó, Đất nông nghiệp, chiếm 64,2% diện tích tự nhiên, đất rừng chiếm 122,8 nghìn ha, đất chuyên dùng 35,4 nghìn ha, đất ở 10,1 nghìn ha. Ngoài ra tỉnh còn có trên 70 nghìn ha đất hoang hoá và sản xuất chưa ổn định với hơn 25 nghìn ha vườn tạp. Rừng tại Kiên Giang rất ít, chủ yếu là rừng phòng hộ. Kiên Giang là tỉnh có tiềm năng khoáng sản tương đối lớn mặc dù đang ở mức thăm dò, nghiên cứu nhưng bước đầu đã xác định được 152 điểm quặng và 23 mỏ khoáng sản các loại khác. Trữ lượng đá vôi toàn tỉnh hiện có 440 triệu tấn, có khả năng khai thác 342 triệu tấn, trong đó trữ lượng khai thác công nghiệp là 235 triệu tấn, đủ nguyên liệu để sản xuất 4,6 triệu tấn clinker/năm trong suốt 40 năm. Than bùn, ước tính còn khoảng 150 triệu tấn.
6. Khí hậu: Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm. Mưa, bão tập trung vào từ tháng 8 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình hàng năm là 2.146,8mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26,40C đến 280C, tháng lạnh nhất là tháng 12; không có hiện tượng sương muối xảy ra. Kiên Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa. Điều kiện khí hậu thời tiết của Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản mà các tỉnh khác ở vùng ĐBSCL không có được như: ít thiên tai, không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi sinh trưởng.
7. Dân cư: Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Kiên Giang đạt gần 1.726.200 người, mật độ dân số đạt 272 người/km Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 471.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.255.000 người. Dân số nam đạt 861.600 người, trong khi đó nữ đạt 852.500 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 10,8 ‰
Về dân tộc và tôn giáo, Kiên Giang là địa bàn cư trú của hơn 15 dân tộc khác nhau. Trong đó, người Kinh chiếm khoảng 85,5%, Người Khmer chiếm khoảng 12,2% dân số tập trung chủ yếu ở các huyện Châu Thành, Gò Quao. Người Hoa chiếm khoảng 2,2% dân số sinh sống ở thành phố Rạch Giá và huyện Châu Thành. Còn lại là một số dân tộc khác như: Chăm, Tày, Mường, Nùng.... Về tôn giáo, theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, trên địa bàn tỉnh có 489.609 người theo tôn giáo, chiếm khoảng 32,7% tổng số dân, trong đó Phật giáo chiếm 25%, Công giáo chiếm 5,7%, còn lại là các tôn giáo khác như Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi giáo.....
8. Tóm tắt nội dung: -Giá trị lịch sử:
Khi Hà Tiên còn là 1 trấn thuộc Đàng Trong, quan tổng trấn Mạc Thiên Tích lập ra hội thơ văn (năm 1736) gồm 36 vị để ngâm vịnh gọi là Tao đàn Chiêu Anh Các. Nhóm Chiêu Anh Các thường hoạt động ở nhiều địa phương trong đó có Thạch Động. Qua hoạt động này, nhóm Chiêu Anh Các đã cho ra đời nhiều kiệt tác, sau đây là một trong những kiệt tác nói về Thạch Động:
Động đá nuốt mây
Xanh xanh ngợn đá chạm thiên hà
Động bích long lanh ngọc chói loà
Chẳng hẹn, khói mây thường lẩn khuất
Không ngăn cây cỏ mọc la đà
Phong sương càng dãi màu tươi đẹp
Nhật nguyệt chi mừng bóng lại qua
Chót vót tinh hoa đây đã hẳn
Theo chiều gió lộng vút cao xa
(Mạc Thiên Tích)
Bên trong Thạch Động (hang đá) có một ngôi chùa thờ phật. Vào đầu thế kỷ XX có 2 nhà sư từ miền Nam Trung Bộ đến Hà Tiên vào chùa Thạch Động trụ trì chùa. Một vị là Quý Nguyên Thọ Thượng Chánh Hạ Quả, dòng tu Lâm Tuế đời thứ 39, tục danh là Lê Thế Duyên; quê ở Phú Yên, hoà thượng từ trần ngày 21 tháng 12 năm quý sửu, thọ 78 tuổi. Một vị là Quý Quảng Sĩ Thượng Thiên Hạ Học, dòng tu Lâm Tuế đời thứ 40, tục danh là Trịnh Tấn Phước; người quê Bình Định; thiền sư từ trần ngày 02 tháng 9 năm Ất Dậu, thọ 75 tuổi. Thiền sư là một vị chân tu lại giỏi nghề thợ mộc nên đã tự tay xây dựng lại chính điện với khiến trúc như ngày nay.
Sau khi hai nhà sư qua đời, đệ tử của sư Trịnh Tấn Phước là bà Cam Thị Nàm (bà Hai Nàm) kế thừa đạo nghiệp trụ trì ngôi chùa. Năm 1948 bà bị thực dân Pháp bắt cùng với 3 người nữa làm ruộng cho nhà chùa về giam tại đồn Hà Tiên. Cả 4 người bị bắt vì lí do chúng bắt quả tang bà Hai Nàm tiếp tế và nuôi giấu cán bộ cách mạng. Ngay đêm bị bắt, giặc Pháp đã giết bà Hai Nàm tại Cầu Cá (tức Cầu Tàu ngày ngay). Người nữ tu hành này là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, là nữ liệt sĩ đáng ghi danh vào bia đá trong Thạch Động. Lại nói về ngôi chùa xây trong hang, cửa chùa là cửa hang chính của Thạch Động; ở đây có đôi liễn lớn đối bằng chữ Hán:
“Thạch thượng linh kỳ lưu ngọc dạ”
“Đông trung tinh địa cấp kim tiên”.
Phía trên cổng chùa có 3 chữ Hán lớn: “Tiên Sơn Động”
Chùa gồm hai ngôi chùa nhỏ kề nhau, dùng vách đá làm tường, chỗ giữa hang xây gạch, chùa bằng gỗ không chạm trổ, lợp ngói hoà hợp với cảnh tự nhiên trong hang.
Chùa có từ bao giờ hiện nay chưa ai biết, sách Đại Nam Nhất Thống Chí (tập 5, quyển 26 mục sơn xuyên chí) chép: “Núi Vân Thiên ở huyện Hà Tiên, cách Địa Tạng khoảng một dặm, có ngọn núi cao chừng 4 trượng, bốn bên vách đứng như một cột kình thiên, núi có động rộng 4- 5 trượng, Bên trong có chùa Bạch Vân; Chùa Bạch Vân ở thôn Mỹ Đức, huyện Hà Tiên…Năm Thiệu Trị thứ 7, Phan Tùng tu bổ”.
Như vậy chùa được xây dựng ít nhất cũng vào đầu thế kỉ XIX.
Về lịch sử, trong thời kháng chiến chống Pháp, giặc Pháp đã dùng một góc hang Thạch Động làm xà lim để tạm giam đồng bào yêu nước và chiến sĩ cách mạng, xà lim tại góc hang Đông Bắc dài 5m rộng 4m (xà lim ấy hiện nay không còn dấu vết)Ngày nay, đến Thạch Động ta sẽ nhìn thấy ngay bên trái, trước cổng di tích lịch sử Thạch Động có tấm bia đá ghi rõ:
Bia căm thù
Ngày 14/3- 1978
Tại xã Mỹ Đức
Bọn diệt chủng PônPốt
đã tàn sát 130 người
Bia căm thù này không khỏi làm cho du khách ngậm ngùi và cũng rất kiêu hãnh về chiến thắng Tây Nam nhiều năm về trước có liên quan đến di tích Thạch Động.
Trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1977- 1978, Thạch Động là điểm phòng thủ trọng yếu của thị xã Hà Tiên. Trong hang đặt các chốt đóng của ban chỉ huy lực lượng vũ trang tiểu đoàn Sông Lam, trung đoàn 18, đồn biên phòng 833. Trên đỉnh núi Thạch Động ta đặt đài quan sát để theo dõi tình hình địch.
Ngoài ra, Thạch động còn là nơi lưu truyền huyền thoại Thạch Sanh giết đại bàng cứu nàng công chúa Huỳnh Nga. Truyện được lưu truyền rộng rãi trong cả hai dân tộc Việt và Khơme. Truyện khá dài, chỉ có nêu lên phần chính liên quan đến di tích như sau:
Một hôm Thạch Sanh đang lấy củi ở Đá Dựng bỗng thấy chim đại bàng cắp một người con gái bay qua, chàng giương cung bắn con đại bàng bị thương. Xong chàng xách búa cùng cung tên chạy theo vết máu từ đại bàng nhỏ xuống. Đến Thạch Động, đại bàng cắp người con gái chui xuống hang, Thạch Sanh lấy đá lấp cửa hang và về nhà gọi Lí Thông. Khi cùng Lí Thông trở lại hang, Thạch Sanh dòng dây xuống hang và dặn Lí Thông “khi nào động đầu dây anh kéo lên” Thạch Sanh xuống hang gặp đại bàng, hai bên đánh hau dữ dội bằng những miếng võ thần bí cao siêu. Cuối cùng con yêu quái bị Thạch Sanh đánh bại, Thạch Sanh gặp cô gái và biết nàng là Công Chúa Huỳnh Nga, hai người nói chuyện hồi lâu và Thạch sanh động đầu dây cho Lí Thông đưa Công Chúa ra khỏi hang sâu. Lý Thông đưa được Công Chúa ra, hắn vội lấp cửa hang nhốt Thạch Sanh lại trong đó; hắn đưa Công Chúa về lập công. Thạch Sanh ở lại trong hang bịt bùng không có lối ra, chàng bèn đi tới một góc hang khác và gặp một chàng trai cũng đang bị giam giữ, Thạch Sanh phá củi cứu được người đó và biết rằng anh ta là con trai vua Thủy Tề….
Khảo tả di tích: Âm hán việt có nghĩa là hang đá nhưng Thạch Động còn là tên của núi đá.
Thạch Động là một núi đá khổng lồ, cao sừng sững đứng cách xa mấy cây số cũng nhìn thấy. Cách 4 km về phí Nam của Thạch động là thị xã Hà Tiên. Cách 3km về phía Tây Thạch Động là biên giới cửa khẩu Việt Nam- Campuchia. Từ Thạch Động ra bờ biển theo đường chim bay khoảng 2km.
Thạch Động có vết nứt xẻ đôi, bên trong là hang sâu rộng. Hang chia nhiều ngách có ánh sáng mờ mờ lúc nào cũng có gió thổi rất mát mẻ. Cửa hang chính rộng lớn, có bậc đá để đón khách ra vào, ba cửa hang nhỏ thông lên cao và một cửa hang nhỏ thông xuống lòng đất mà người dân thường gọi là ngõ xuống âm phủ.
Ngõ xuống âm phủ nằm ở vách nam cửa hang sâu thăm thẳm không biết đâu là điểm cuối cùng. Tương truyền rằng có lần Tổng Trấn hà Tiên Mạc Thiên Tích sai người theo cửa hang đi sâu xuống, người đó đi mãi chỉ nghe tiếng sóng, sợ quá phải quay trở lên. Một tương truyền nữa, có người thử xem hang này ra sao, viết chữ đánh dấu vào những trái dừa khô thả vào trong hang và sau đó người ta đi biển vùng Phú Quốc, Hà Tiên đều lượm được những trái dừa ấy trôi trên biển. Ngày nay miệng hang đã được người dân lấp kín, tráng xi măng đề phòng tai nạn xảy ra.
Hang có nhiều thạch nhũ, vách động cửa hang có đường thông ra ngoài ở lưng chừng vách, cửa hang có một khối thạch nhũ rất lớn.
Các vách trong hang, thạch nhũ, tạo ra nhiều hình thù kì lạ theo trí tượng tượng của từng người. Ví dụ, vách phía Tây có hình phật bà màu trắng ngà cao khoảng 30 phân, vách tây Bắc có hình một người con gái mặt trắng, tóc xoã ngang vai và mặc chiếc áo dài màu xanh. Người ta truyền nnhau rằng đó là nàng Công Chúa Huỳnh Nga trong truyền thuyết ThạchSanh - Lý Thông.
 
KIÊN GIANG - Thạch Động - ảnh 2
KIÊN GIANG - Thạch Động - ảnh 3
KIÊN GIANG - Thạch Động - ảnh 4
KIÊN GIANG - Thạch Động - ảnh 5
Một số hình ảnh Thạch Động (nguồn: sưu tầm internet)

Đỗ Khắc Tình (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
http://ditichlichsuvanhoa.com/; vi.wikipedia.org/wiki/Kiên_Giang

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác