PHÚ THỌ - Đến Hùng

(Cinet - DL) - Đền Hùng được xây vào thế kỷ 15, nơi đây người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.
1. Di sản/Di tích: Đền Hùng 
2. Thời gian: Đền Hùng được xây vào thế kỷ 15, nơi đây người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm
PHÚ THỌ - Đến Hùng - ảnh 1
Lễ hội Đền Hùng (nguồn internet)
vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.
3. Năm công nhận: Ngày 12/8/2009 Thủ tướng đã ký ban hành với Quyết định số 1272/QĐ-TTg,về việc xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho Di tích lịch sử đền Hùng.
4. Địa hình/Vị trí: Kinh đô Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước nằm trong địa giới thành phố Việt Trì ngày nay. Đây là một nơi đắc địa được các vua Hùng lựa chọn, nằm giữa hai con sông Hồng và sông Lô chảy qua, tạo nên một vùng đất màu mỡ rất thuận lợi cho việc canh tác, đồng thời như những con hào thiên nhiên che chắn, bảo vệ. Xa xa nhìn về hướng đông có dãy núi Tam Đảo án ngữ tựa như Thanh Long, phía Tây có ngọn núi Ba Vì cao ngất tựa như Bạch Hổ, ở vào thế “sơn chầu, thủy tụ” vùng đất địa linh.
Quần thể di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc thâm nghiêm trên núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét. Từ Hà Nội theo quốc lộ số 2 đến thành phố Việt Trì (84km) đi tiếp khoảng 10km đến ngã ba Hàng rẽ về bên trái 3 km là đến khu di tích. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn Lang cổ xưa. Di tích lịch sử Đền Hùng nằm trong vùng đất thấp phía Tây Bắc thành phố Việt Trì. Tổng diện tích trên 1.000ha thuộc phần đất trong địa giới hành chính của 7 xã: Hy Cương, Chu Hóa, Tiên Kiên, Thanh Đình – huyện Lâm Thao, Phù Ninh – huyện Phù Ninh, Kim Đức và xã Vân Phú – thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Khu di tích lịch sử Đền Hùng được xác định trong tọa độ địa lý từ 21o24’08’’ đến 21o28’76”. Từ 104o77’15” đến 104o81’68” kinh độ đông, được chia thành 2 vùng: vùng trung tâm và vùng điều chỉnh xây dựng rừng quốc gia Đền Hùng được bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích là 538ha, chủ yếu thuộc hai xã Hy Cương, huyện Lâm Thao và Phù Ninh, huyện Phù Ninh. Vùng đệm có diện tích hơn 500ha gồm 7 xã như trên.
Khu vực Đền Hùng nằm trong vùng địa chất biến chất, nâng lên và uốn với 3 kiểu: địa mạo đồi gò, địa mạo đồi gò phù sa cổ và bậc thềm thung lũng tích lũy.
Tương ứng là các kiểu địa hình đồi gò, sau đó đến gò đồi trung bình và thung lũng bồi tích. Đây là chính là tiểu vùng đồi xen ruộng nước. Do cấu tạo địa mạo như trên nên địa thế ở khu vực này đại bộ phận là sườn dốc thoải. Vì vậy sinh ra các kiểu mẫu chất sườn tiến, phù sa cổ và phù sa mới.
Hầu hết các gò đồi khu vực Đền Hùng đều thấp (chiếm 70 – 80 diện tích), trừ núi Nghĩa Lĩnh (cao 175m) và núi Vặn (cao 171m). Độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Khu trung tâm được chia thành tiểu vùng theo độ dốc sau: độ dốc < 10o : có diện tích là 28,53ha, độ dốc 15o – 20o : có diện tích là 38,18ha, độ dốc 20o – 25o : có diện tích là 38,68ha, độ dốc > 25o : có diện tích là 83,2ha.
5. Thổ nhưỡng: Dựa vào nguồn gốc phát sinh của đất, khu vực Đền Hùng được chia làm ba loại đất chính:
Đất Feralit phát triển trên Gnai: Phân bố hầu hết trên diện tích các đồi gò trong khu vực. Đất có màu đỏ vàng, màu này thay đổi phụ thuộc vào kiểu địa hình, lớp phủ thực bì và tuổi khai thác sử dụng đất. Loại đất này đại bộ phận có độ tơi xốp cao, tầng đất mỏng, 1 số diện thích nhỏ có hiện tượng kết von.
- Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ: Thường xuất hiện ở vị trí của đỉnh và sườn đồi. Do nguồn gốc là phù sa được nâng lên bởi quá trình tạo núi nên đất có độ phì kém, nghèo mùn, nghèo đạm, lân, kali, dễ tiêu, độ chua cao (PH = 4,1% - 4,5%). Thành phần cơ giới là đất thịt trung bình và đất thịt nhẹ. Kết von là quy luật đặc thù của đất này, độ kết von 30 - 60%, đất xấu khô kiệt không thuận lợi cho cây trồng.
- Đất dốc tụ dưới các chân đồi gò: Lập địa được hình thành từ các thung lũng bồi tụ bởi tổ hợp các đất: đất phù sa (là sản phẩm bồi tụ lũy tích) đất dốc (là sản phẩm bồi tụ sườn tích do lũ tích gây ra). Đất thung lũng phụ thuộc rất nhiều vào tính chất đồi gò tiếp giáp, nhưng do rửa trôi bào mòn theo chiều ngang của dòng chảy mặt cho nên đất cũng bị ảnh hưởng xấu đến độ phì nhiêu. Do sự tích lũy của thung lũng nên đất này luôn có dộ phì cao hơn đất đồi gò. Sự tụ thủy của thung lũng đã tạo ra cho đất phù sa và đất dốc tụ ngập nước thường xuyên theo mùa nên xảy ra quá trình Glây, đất nhão nhuyễn không có kết dính và đất chỉ thích hợp cho cây trồng chịu nước.
6. Khí hậu: Khu vực Đên Hùng mang đặc tính chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, thuộc khí hậu á nhiệt đới gió mùa. Có hai mùa rõ rệt, mùa nóng và mùa lạnh. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, thường có mưa chiếm 70 – 80% lượng mưa cả năm. Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường ít mưa và có gió lạnh.
Nhiệt độ không khí trung bình trong năm thường vào khoảng 23,1oC
Nhiệt độ không khí trung bình tháng thấp nhất khoảng 15.7oC
Nhiệt độ không khí trung bình tháng cao nhất tuyệt đối lên tới 40,7oC (tháng 5/1931)
Nhiệt độ không khí trung bình tháng thấp nhất tuyệt đối xuống tới 3,5oC (tháng 12/1934)
Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1.662 giờ, hầu hết các tháng trong năm đều có nắng, tuy nhiên phân bố không đều. Số giờ nắng nhiều nhất và nóng nhất tập trung vào tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 82 – 84%
Độ ẩm không khí trung bình cao nhất từ 85 – 87% (vào tháng 3,4)
Độ ẩm không khí trung bình thấp nhất từ 79 – 81% (vào tháng 11,12)
Số ngày trời nhiều mây nhất là vào tháng 3
Số ngày trời ít mây nhất là vào tháng 10
Tổng số ngày nhiều mây trung bình là 170 ngày
Mưa chủ yếu vào mùa nóng, thỉnh thoảng có mưa đá.
Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 – 8. Tổng số lượng mưa trung bình năm là 1.850mm. Lượng mưa trung bình cao nhất là 382,5mm (tháng 7). Lượng mưa trung bình thấp nhất là 24,9mm (tháng 12)
Gió bị phân hướng do điều kiện địa hình. Gió chủ đạo trong khu vực là Đông – Đông Nam và gió Tây Bắc với tần sất đáng kể. Tốc độ gió trung bình năm là 1,8m/S. Tốc độ gió trung  bình tháng lớn nhất là 2,4m/S( tháng 4). Tốc độ gió mạnh nhất: 40/S (tháng 6)
Bão thường xuyên xảy ra vào tháng 5 đến tháng 10 và thường kéo theo mưa to. Tháng 6 và tháng 8 đôi khi có lốc xoáy, gây đổ cây, đổ nhà cửa và các công trình kiến trúc xây dựng. 
7. Dân cư: Chính vì vị trí, địa hình như vậy, nên Việt Trì đã trở thành địa bàn cư trú tập trung của người Việt cổ và là nơi các vua Hùng chọn làm trung tâm chính trị của nhà nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.
Tổng dân số toàn tỉnh là: 1.286.075 người
Nam: 631.675 người
Nữ: 654.400 người
Toàn tỉnh có 22 dân tộc anh em  trong đó đông nhất là người Kinh, người Mường,
Phân theo giới tính năm 2003 là nam chiếm 49%, nữ 51%
Về dân cư thành thị  năm 2003 chiếm 15,1%,nông thôn 84,9%
Dự báo năm 2010 – 2020 dân cư thành thị chiếm 42%, nông thôn 58%
Trình độ học vấn  hiện nay của dân cư Phú Thọ vào loại khá so với cả nước, số người chưa biết chữ chỉ chiến 0,5% so với tổng số dân toàn tỉnh, trong khi cả nước còn tới 3,5% số người chưa biết chữ so với tổng số dân cả nước. 
8. Tóm tắt nội dung:
8.1. Kiến trúc:
8.1.1. Nội thất:
Cổng đền: được xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh vào năm Khải Định thứ 2 (1917), dạng vòm cuốn, cao 8,5m, gồm 2 tầng, 8 mái... Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc mái trang trí rồng, đắp nổi hai con nghê. Mặt trước của cổng đắp nổi phù điêu hai võ sĩ, một người cầm giáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp, ngực trang trí hình hổ phù. Đền Hạ: có bờ nóc phẳng, không trang trí, mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn, được xây dựng lại trên nền cũ, vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII, kiểu chữ “nhị”, gồm tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m, kiến trúc đơn sơ, kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa.
Ngay chân đền Hạ là nhà bia, với kiến trúc hình lục giác, xây dựng năm 1917, trên đỉnh có đắp hình nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng xi măng, có 6 cột bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can. Trong nhà bia hiện nay đặt một bia đá, nội dung ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm đền Hùng ngày 19/9/1954:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước,
 Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Chùa Thiên Quang Thiền Tự (nơi có ánh sáng của mặt trời rọi xuống)
Xây dựng vào thời kỳ nhà Lê (từ 1427-1573) kiến trúc chủ yếu là cột gỗ có đá kê và lợp ngói, được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các toà Tiền đường (5 gian), Thiêu hương (2 gian), Tam bảo (3 gian) ở phía trước, dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau. Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lợp ngói mũi, có đầu đao cong. Bờ nóc tiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo lối Đại thừa. Trước sân chùa có 2 tháp sư, hình trụ, 4 tầng; trên nóc đắp hình hoa sen; lòng tháp xây rỗng; cửa vòm nhỏ. Trong tháp có bia đá khắc tên các vị hoà thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa.
PHÚ THỌ - Đến Hùng - ảnh 2
PHÚ THỌ - Đến Hùng - ảnh 3
PHÚ THỌ - Đến Hùng - ảnh 4
Đền thờ Vua Hùng (nguồn inetrnet)

Chùa còn có một gác chuông, được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm 3 gian, 2 tầng mái, 4 vì kèo kiểu chồng rường kết hợp với bẩy kẻ. Các bẩy, kẻ hầu như để trơn, không chạm trổ. Quả chuông treo trên gác không ghi niên đại đúc chuông mà chỉ ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây đạo, Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện, Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cư phụng”. Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu): nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian, quay về hướng Nam, dài 7,2m, rộng 3,7m; mái hiên cao 1,8m. Bộ vì kiểu kèo cầu quá giang gối vào tường, phía trước mở 3 cửa.
Đền Thượng(mộ vua Hùng thứ 6): các công trình của đền được xây dựng qua ba cấp khác nhau: phía trước là bức nghi môn lớn, nhà chuông trống, tiền tế, đại bái và hậu cung. Bên phía tay trái đền có một cột đá thề, hình vuông, cao 1,3m, rộng 0,3m. Năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo di tích, làm bệ cho cột đá thề như hiện nay.
Lăng Hùng Vương: tương truyền là mộ của vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía Đông của đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam. Lăng hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo thành 2 tầng mái; tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng trong tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu”; mái đắp giả ngói ống cổ; diềm 3 phía đều đắp mặt hổ phù; ba mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều đắp kỳ lân, xung quanh có tường bao quanh, chất liệu bằng đá. Trong lăng có mộ vua Hùng. Mộ xây hình hộp chữ nhật, dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m. Phía trong lăng còn có bia đá ghi: biểu chính (lăng chính). Phía trên ba mặt lăng đều có đề: Hùng Vương lăng (lăng Hùng Vương).
Đền Giếng(Ngọc Tỉnh): nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, được xây dựng vào thế kỷ XVIII, quay hướng Đông Nam, kiến trúc kiểu chữ Công, gồm nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3 gian), 1 chuôi vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối tiền bái với hậu cung.
Cổng đền Giếng được xây vào thời Nguyễn, theo kiểu kiến trúc 2 tầng, 8 mái. Ở giữa tầng dưới có một cửa xây kiểu vòm, hai bên có hai cột trụ, trên đắp nghê chầu. Trên cổng có bức đại tự đề: “Trung sơn tiểu thất” (ngôi nhà nhỏ trong núi).
Đền Tổ mẫu Âu Cơ: được khởi dựng trên đỉnh Ốc sơn (thường gọi là núi Vặn) vào năm 2001, khánh thành tháng 12 năm 2004. Các hạng mục kiến trúc gồm: đền chính, tả, hữu vu, nhà bia, trụ biểu, tam quan, nhà tiếp khách và hệ thống sân, vườn. Kiến trúc đền theo lối cổ, với cột, xà, hoành, rui bằng gỗ lim, mái được lợp bằng ngói mũi hài, tường bằng gạch. Đền chính kiểu chữ đinh, có diện tích 137m2.
Trong đền có tượng thờ Mẹ Âu Cơ và Lạc hầu, Lạc tướng. Đường đi lên đền được xây bằng 553 bậc đá.
Đền thờ Quốc tổ Lạc Long Quân: khởi công xây dựng năm 2007, tại đồi Sim, cách núi Nghĩa Lĩnh khoảng 1 km, nơi có vị trí đắc địa, có thế "sơn chầu thuỷ tụ” với tổng diện tích đất sử dụng là 13,79ha, khánh thành năm 2009, gồm các hạng mục: nghi môn, trụ biểu, nhà bia, đền chính (gồm tiền tế, đại bái, hậu cung), tả, hữu vu. Trong đền đặt tượng Lạc Long Quân, đúc bằng đồng, bệ tượng, lư hương được tạc bằng đá khối, họa tiết trang trí tinh xảo.
Đồi Sim có hình thế giống một con rùa lớn, hai bên có Thanh Long, Bạch Hổ, phía trước là hồ Hóc Trai và sông Hồng chảy xuôi về biển. Ngôi đền tọa lạc trên lưng rùa biểu hiện sự linh thiêng huyền diệu. Đền thờ gồm các hạng mục: đền chính, cổng, trụ biểu, cổng biểu tượng, phương đình, nhà tả vu, hữu vu, lầu hóa vàng, các công trình phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật. Đền thờ được chia làm 3 khu: Khu A, diện tích gần 9.000 m2 xây dựng đền thờ chính; khu B, rộng hơn 9.400m2 xây dựng khu đón tiếp và nhà quản lý; khu cảnh quan và các công trình phụ trợ rộng hơn 119.000m2.
Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân: được Nhà nước đầu tư xây dựng đồng bộ các hạng mục công trình kiến trúc, các họa tiết trang trí được mô phỏng theo hoa văn trên trống đồng Đông Sơn được cách điệu như: Hình ảnh người giã gạo, hình ảnh chim lạc... thể hiện sinh động, độc đáo mang nét kiến trúc đặc trưng riêng của ngôi đền tôn thêm sự uy nghiêm, linh thiêng.
Cổng đền (nghi môn) cũng được xây dựng theo kiểu truyền thống, gồm có 4 cột, cổng chính rộng 4,2m, cổng phụ rộng khoảng 2m. Cổng được xây dựng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh chạm họa tiết hoa văn 4 mặt. Phía trước nghi môn là cổng biểu tượng cũng có kết cấu cột bê tông cốt thép ốp đá và chạm khắc. Hai bên sân đền là nhà tả vu, hữu vu xây dựng 5 gian, khung gỗ lim, lợp ngói mũi hài. Hai trụ biểu đối xứng nhau cũng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh.
Đền chính có diện tích 210m2, kiến trúc kiểu chữ đinh truyền thống, nội thất bằng gỗ lim, sơn son thếp vàng, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng, bó vỉa đá xanh. Hậu cung đặt tượng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân dáng vẻ uy nghiêm. Tượng được đúc bằng đồng, nặng 1,5 tấn, cao 1,98m ở tư thế ngồi trên ngai, đặt trên bệ đá chạm khắc hoa văn theo mô típ văn hóa Đông Sơn. Hai bên là tượng Lạc hầu và Lạc tướng ở tư thế đứng có chiều cao 1,80m, mỗi pho nặng 0,5 tấn.
8.1.2. Ngoại thất:
Quần thể di tích đền Hùng được xây dựng hài hoà với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nơi khí thiêng của non sông hội tụ.
Từ ngã Ba Đền Hùng, rời đường lớn, rẽ vào con đường đất đỏ như xẻ qua đồi, dưới rừng cây là Cổng đền Hùng ở chân núi phía Tây, bên những gốc thông. Cổng xây theo kiểu tam quan, hai tầng, góc mái uốn cong. Bờ nóc có "lưỡng long chầu nhật". Cửa chính giữa cao rộng. Cách hai tường ngắn là hai cột trụ, đỉnh có đắp đèn lồng, con nghê. Phía trên cửa chính có 4 đại tự "CAO SƠN CẢNH HÀNG" có nghĩa là "NÚI CAO ĐƯỜNG LỚN". Du khách phải trèo lên 255 bậc đá để đến Đền Hạ. Trong khu vực đền Hạ có chùa Thiên Quang. Trước cửa chùa là cây thiên tuế sống được 700 năm.
Từ Đền Hạ, qua nhà đặt bia, bên gốc đại thụ, đi xuống chân núi ở mặt Đông Nam khoảng vài chục bậc đá, du khách đến được Đền Giếng, đây là nơi thờ hai vị công chúa là Tiên Dung và Ngọc Hoa, con gái vua Hùng thứ 18, trong đền có Giếng Ngọc, leo 168 bậc lên Đền Trung. Tiếp tục lên 102 bậc đá nữa, du khách đến được Đền Thượng, nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời Đất, Thần Núi và Thần Lúa. Đền  có  bức  hoành  phi lớn  đề  4  đại  tự "NAM  QUỐC  SƠN  HÀ".  Trước  đền Thượng có một cột đá lớn, dựng trên bệ cao, khói hương ám đen kịt, được gọi là đá thề, đây là nơi vua Thục Phán đã nguyện xin đời đời tế tự các vua Hùng và giữ gìn cơ nghiệp họ Hùng truyền lại. Phía bên đền Thượng, thấp hơn vài chục bậc  là lăng  vua Hùng, tượng trưng cho mộ tổ xây dựng vào đầu thế kỷ 20, kiến trúc giản dị đơn sơ. Toàn bộ khu di tích hiện nay bao gồm 4  đền 1 chùa, 1 lăng, đều được trùng tu hoặc xây thêm cách nay vào khoảng trăm năm. Theo lời kể của các cụ già ở địa phương, đền Trung có sớm nhất, do thôn Trẹo (tên nôm của làng Triệu Phú, có đông người họ Trẹo, nay đổi thành Triệu) xây dựng từ thời xa xưa để thờ các vua Hùng. Sau làng Trẹo đông dần, chia thành ba làng là: Triệu Phú, Cổ Tích, Vi Cương. Hai làng mới cũng lập đền thờ trên núi. Làng Cổ Tích dựng đền Thượng. Làng Vi Cương dựng đền Hạ. Triệu Phú là làng gốc vẫn trông nom thờ cúng đền Trung như cũ.
Ba bài vị thờ các thần núi có tên nôm na là núi Cả, núi Vặn, núi Trọc và tên chữ Hán là "Đột Ngột Cao Sơn", "Ất Sơn" (núi gần), "Viễn Sơn" (núi xa) đặt trong các đền. Vỏ trấu lớn bằng đá, về sau làm lại bằng gỗ thờ ở đền Thượng. Tảng đá "cối xay" đường kính trên 2m ở trên núi Trọc được chú ý bảo tồn. Những mảnh đá lớn kê hai bên bệ thờ ở đền Hạ là những dấu tích gợi nhớ những nghi thức thờ cùng nguyên thủy của cư dân thời Hùng Vương. Quanh đền Hùng, một loạt tên đất, tên xóm làng còn vang vọng một thời: Xã Thậm Thình là nơi xã giã gạo cho vua, Kẻ Sủ, nơi làm việc cho các quan, Kẻ Đọi là chỗ rèn luyện quân sĩ, Kẻ Gát, nơi vua dựng lầu kén rể, v.v... Khu vực Đền Hùng được bảo vệ, tôn tạo khá chu đáo. Đường đi được làm thêm vào thời gian gần đây; bậc đá lên đền được sửa lại; cây được trồng thêm. Ngoài ra, còn xây thêm khu công quán, đào hồ chứa nước Lạc Long Quân... Đứng trên núi Nghĩa Lĩnh nhìn xuống, du khách thấy phía xa xa là Ngã ba Hạc, nơi sông Lô nhập dòng với sông Hồng. Xưa kia, mênh mông như biển cả. Phía bên trái là  dãy  Tam  Đảo  hùng  vĩ.  Phía  bên phải  là  ngọn  Ba  Vì  mờ  mờ xanh  ẩn  hiện... Đồng ruộng, đồi cọ, vườn chè, làng xóm trù phú, vùng trung du trải rộng ra trước mắt. Đây đó rải rác những đầm hồ lớn lấp loáng. 
8.2. Giá trị truyền thống của dân tộc:
Đền Hùng là nơi hội tụ văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và lễ hội đền Hùng là thể hiện hết sức cụ thể, sinh động và thiêng liêng truyền thống cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam. Lễ hội đền Hùng là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam; đặc biệt, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vừa qua đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Giỗ Tổ Hùng Vương – từ rất lâu đã trở thành ngày trọng đại của cả dân tộc, đã in đậm trong cõi tâm linh của mỗi người dân đất Việt. Dù ở phương trời nào, người Việt Nam đều nhớ ngày giỗ Tổ, đều hướng về vùng đất Cội nguồn. Từ ngàn đời nay Đền Hùng là nơi tưởng nhớ, tôn vinh công lao các Vua Hùng, là biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng nhằm giáo dục truyền thống yêu nước “Uống nước nhớ nguồn”, biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước.
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương là ngày hội chung của toàn dân, ngày mà mọi trái tim dù ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều nhìn về cùng một hướng: Đền Hùng.
Lễ giỗ Tổ Hùng Vương cử hành vào ngày mồng mười tháng ba. Trong ngày này, nhân dân cả nước còn có điều kiện để tham gia vào các hoạt động văn hóa thể hiện lòng thành kính tri ân các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân đã vì dân giữ nước.
Lịch sử như một dòng chảy liên tục. Trải mấy nghìn năm, trước bao biến động thăng trầm, trong tâm thức của cả dân tộc, Đền Hùng vẫn là nơi của bốn phương tụ hội, nơi con cháu phụng thờ công đức Tổ tiên.
Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử mới của dân tộc ta. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước nhớ nguồn” nên giỗ Tổ Hùng Vương 1946 – sau khi Chính phủ mới được thành lập – là một sự kiện hết sức đặc biệt, đáng ghi nhớ. Năm ấy, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phó Chủ tịch nước, đã thay mặt Chính phủ VNDCCH lên làm lễ dâng hương tại Đền Hùng.
Kháng chiến thắng lợi với thiên sử vàng Điện Biên Phủ (7-5-1954), ngày 19-9-1954, tại Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Lời căn dặn cũng là lời hứa quyết tâm ấy của vị lãnh tụ đứng đầu đất nước, dân tộc đã được thực hiện vào mùa xuân 1975: Sau 30 năm gian khổ hy sinh, nhân dân ta đã quét sạch bọn xâm lược ra khỏi bờ cõi,giang san thống nhất, quy về một mối vẹn toàn.
Trong hồ sơ đề trình UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là di sản văn hoá thế giới đã nêu rõ giá trị của di sản là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, theo tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong 5 tiêu chí, đó là, di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó. Vì vậy, ngày 6/12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Không chỉ người Việt chúng ta tự hào về Đền Hùng, mà tìm vào những dòng lưu bút của các đoàn đại biểu quốc tế và bạn bè khắp năm châu bốn biển từng đến thăm viếng Đền Hùng, chúng ta thật sự xúc động khi được biết Đền Hùng và các di tích trên Nghĩa Lĩnh đã làm cho cả thế giới phải cúi đầu vị nể ý thức cội nguồn dân tộc của chúng ta.Đền Hùng là nơi đặt nền móng cho lịch sử Việt Nam…
Đền Hùng là một di tích vô giá của nhân dân Việt Nam. Đây là biểu tượng của tổ tiên dân tộc Việt Nam – một dân tộc đã có truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm.
Có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có chung một gốc gác tổ tiên – một ngày giỗ Tổ như dân tộc ta. Từ huyền thoại mẹ Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nửa theo cha xuống biển, nửa theo mẹ lên rừng đã khơi dậy ý thức về dân tộc, nghĩa đồng bào và gắn kết chúng ta thành một khối đại đoàn kết. Hai chữ đồng bào là khởi nguồn của yêu thương, đùm bọc, của sức mạnh Việt Nam.            
Tô Giang (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

Tổng cục du lịch http://www.vietnamtourism.com
 Wikipedia https://vi.wikipedia.org
 Cục di sản văn hóa http://dsvh.gov.vn
 Người con yêu nước   https://nguoiconyeunuoc.wordpress.com
 Du lịch Phú thọ  http://dulich.phutho.gov.vn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác