PHÚ THỌ - Đền Mẫu Âu Cơ

(Cinet - DL) - Đền Mẫu Âu Cơ được  xây dựng trên đỉnh núi Vặn (núi Ốc Sơn), thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
1. Di sản/Di tích: Đền Mẫu Âu Cơ
2. Thời gian: Vua Đế Minh phong cho Đế Nghi làm vua ở Phương Bắc, Lộc Tục làm vua ở Phương Nam. Lộc Tục lên ngôi khoảng năm 2879 TCN xưng là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Sùng Lãm năm 2793 TCN, xưng là Lạc Long Quân, kết duyên với Âu Cơ là con gái của Đế Lai ở động Lăng Dương (nay là huyện Thanh Thủy, Phú Thọ).
PHÚ THỌ - Đền Mẫu Âu Cơ - ảnh 1
Đền Mẫu Âu Cơ (nguồn internet)
Tục truyền rằng, Âu Cơ trở dạ đã sinh được bọc trăm trứng và nở thành trăm người con trai. Khi các con lớn lên, Lạc Long Quân đã nói với Âu Cơ: Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hỏa khó hòa hợp…. Vì thế, hai vị đã chia 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha xuống biển để lưu truyền được lâu dài, về sau cả trăm người con đó cùng hai vị đều hóa thần. Trong 50 người con theo mẹ, người con đầu lên nối ngôi vua, lấy niên hiệu Hùng Vương thứ nhất, đặt tên nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, truyền 18 đời vua Hùng, trị vì đất nước trong 2621 năm (từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN đến năm 258 SCN), trở thành tổ tiên của các tộc người, dòng họ Việt Nam ngày nay. Mẹ Âu Cơ đã đến khi đó được gọi là trang Hiền Lương, quận Hạ Hòa, trấn Sơn Tây để khai hoang, lập ấp, dạy đân cày cấy , trồng dâu nuôi tằm, sau đó bà lại đi khai hoang vùng đất mới
Dưới triều vua Lê Thánh Tông năm 1465, vua đã ra chiếu chỉ phong thần, cấp tiền, xây dựng thành Đền Mẫu Âu Cơ như ngày nay, giao cho nhân dân xã Hiền Lương thờ phụng. Thế kỷ 15, triều đình Hậu Lê đã phong sắc và cho xây dựng đền, thế kỷ 19 nhà Nguyễn một lần nữa lại phong sắc công nhận đền Mẫu Âu Cơ.
3. Năm công nhận: Ngày 3/8/1991, Bộ Văn hóa – Thông tin nước CHXHCN Việt Nam (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) cấp bằng công nhận Đền Mẫu Âu Cơ  là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.
4. Địa hình/Vị trí: Đền Mẫu Âu Cơ được  xây dựng trên đỉnh núi Vặn (núi Ốc Sơn), thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, có độ cao 170,2m so với mặt biển, nằm trong hệ thống “Tam sơn cấm địa” là núi Hùng, núi Trọc, núi Vặn.
Đứng trên đỉnh núi Vặn có thể bao quát một vùng rộng lớn sơn thuỷ hữu tình. Phía trước núi Vặn là núi Hùng, nơi thờ tự các vua Hùng. Núi Hùng trông xa giống như đầu con rồng lớn, mình rồng uốn lượn thành núi Trọc, núi Vặn ở phía sau. Bên tả có dòng sông Hồng, bên hữu có dòng sông Lô tựa như hai dải lụa đào, bao bọc lấy ba ngọn “Tổ Sơn” ở giữa. Phía sau núi Vặn là những dãy đồi lớn san sát như bát úp, gắn với truyền thuyết “Trăm voi chầu về đất tổ”. Cảnh thế ngoạn mục hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ tụ hội.
Khu vực đền Mẫu Âu Cơ là một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài khoảng 200m và chiều rộng khoảng 150m với tường cao bao quanh.
5. Thổ nhưỡng: Khu vực đền Mẫu Âu Cơđược chia làm ba loại đất chính:
- Đất Feralit phát triển trên Gnai: Phân bố hầu hết trên diện tích các đồi gò trong khu vực. Đất có màu đỏ vàng, màu này thay đổi phụ thuộc vào kiểu địa hình, lớp phủ thực bì và tuổi khai thác sử dụng đất. Loại đất này đại bộ phận có độ tơi xốp cao, tầng đất mỏng, 1 số diện thích nhỏ có hiện tượng kết von.
- Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ: Thường xuất hiện ở vị trí của đỉnh và sườn đồi. Do nguồn gốc là phù sa được nâng lên bởi quá trình tạo núi nên đất có độ phì kém, nghèo mùn, nghèo đạm, lân, kali, dễ tiêu, độ chua cao (PH = 4,1% - 4,5%). Thành phần cơ giới là đất thịt trung bình và đất thịt nhẹ. Kết von là quy luật đặc thù của đất này, độ kết von 30 - 60%, đất xấu khô kiệt không thuận lợi cho cây trồng.
- Đất dốc tụ dưới các chân đồi gò: Lập địa được hình thành từ các thung lũng bồi tụ bởi tổ hợp các đất: đất phù sa (là sản phẩm bồi tụ lũy tích) đất dốc (là sản phẩm bồi tụ sườn tích do lũ tích gây ra). Đất thung lũng phụ thuộc rất nhiều vào tính chất đồi gò tiếp giáp, nhưng do rửa trôi bào mòn theo chiều ngang của dòng chảy mặt cho nên đất cũng bị ảnh hưởng xấu đến độ phì nhiêu. Do sự tích lũy của thung lũng nên đất này luôn có dộ phì cao hơn đất đồi gò. Sự tụ thủy của thung lũng đã tạo ra cho đất phù sa và đất dốc tụ ngập nước thường xuyên theo mùa nên xảy ra quá trình Glây, đất nhão nhuyễn không có kết dính và đất chỉ thích hợp cho cây trồng chịu nước.
6. Khí hậu: Đền Mẫu Âu Cơ mang đặc tính chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, thuộc khí hậu á nhiệt đới gió mùa. Có hai mùa rõ rệt, mùa nóng và mùa lạnh. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, thường có mưa chiếm 70 – 80% lượng mưa cả năm. Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường ít mưa và có gió lạnh.
Nhiệt độ không khí trung bình trong năm thường vào khoảng 23,1oC
Nhiệt độ không khí trung bình tháng thấp nhất khoảng 15.7oC
Nhiệt độ không khí trung bình tháng cao nhất tuyệt đối lên tới 40,7oC (tháng 5/1931)
Nhiệt độ không khí trung bình tháng thấp nhất tuyệt đối xuống tới 3,5oC (tháng 12/1934)
Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1.662 giờ, hầu hết các tháng trong năm đều có nắng, tuy nhiên phân bố không đều. Số giờ nắng nhiều nhất và nóng nhất tập trung vào tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 82 – 84%
Độ ẩm không khí trung bình cao nhất từ 85 – 87% (vào tháng 3,4)
Độ ẩm không khí trung bình thấp nhất từ 79 – 81% (vào tháng 11,12)
Số ngày trời nhiều mây nhất là vào tháng 3
Số ngày trời ít mây nhất là vào tháng 10
Tổng số ngày nhiều mây trung bình là 170 ngày
Mưa chủ yếu vào mùa nóng, thỉnh thoảng có mưa đá.
Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 – 8. Tổng số lượng mưa trung bình năm là 1.850mm. Lượng mưa trung bình cao nhất là 382,5mm (tháng 7). Lượng mưa trung bình thấp nhất là 24,9mm (tháng 12)
Gió bị phân hướng do điều kiện địa hình. Gió chủ đạo trong khu vực là Đông – Đông Nam và gió Tây Bắc với tần sất đáng kể. Tốc độ gió trung bình năm là 1,8m/S. Tốc độ gió trung  bình tháng lớn nhất là 2,4m/S( tháng 4). Tốc độ gió mạnh nhất: 40/S (tháng 6)
Bão thường xuyên xảy ra vào tháng 5 đến tháng 10 và thường kéo theo mưa to. Tháng 6 và tháng 8 đôi khi có lốc xoáy, gây đổ cây, đổ nhà cửa và các công trình kiến trúc xây dựng.
7. Dân cư: Chính vì vị trí, địa hình như vậy, nên Việt Trì đã trở thành địa bàn cư trú tập trung của người Việt cổ và là nơi các vua Hùng chọn làm trung tâm chính trị của nhà nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.
Tổng dân số toàn tỉnh là: 1.286.075 người
Nam: 631.675 người
Nữ: 654.400 người
Toàn tỉnh có 22 dân tộc anh em  trong đó đông nhất là người Kinh, người Mường,
Phân theo giới tính năm 2003 là nam chiếm 49%, nữ 51%
Về dân cư thành thị  năm 2003 chiếm 15,1%,nông thôn 84,9%
Dự báo năm 2010 – 2020 dân cư thành thị chiếm 42%, nông thôn 58%
Trình độ học vấn  hiện nay của dân cư Phú Thọ vào loại khá so với cả nước, số người chưa biết chữ chỉ chiến 0,5% so với tổng số dân toàn tỉnh, trong khi cả nước còn tới 3,5% số người chưa biết chữ so với tổng số dân cả nước.
8. Tóm tăt nội dung:
Giá trị lịch sử nổi bật:

Đền Mẫu Âu Cơ là một công trình lịch sử văn hóa đặc biệt, là biểu tượng của tinh thần yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc.
Đền Mẫu Âu Cơ là một quần thể kiến trúc bao gồm: Đền chính thờ Mẫu Âu Cơ, nhà tả vu, nhà hữa vu, nhà bia, trụ biểu, tam quan… được thiết kế theo phong cách xây dựng truyền thống, xen lẫn tính hiện đại. Các họa tiết trên trống đồng Đông Sơn: Cột gỗ có thớt đá kê, tường xây gạch mộc đỏ, mái đền có đầu đao cong vút như cánh chim Lạc, trụ biểu đá giống như cây bút đang viết lên trời xanh, các bức chạm quý và nhiều cổ vật vô giá…
Trong Hậu cung đền đặt tượng Mẫu Âu Cơ được làm bằng đồng. Phía dưới đặt tượng Lạc hầu, Lạc tướng.
Mẹ Âu Cơ kết duyên cùng cha Lạc Long Quân tại Động Lăng Xương - Thanh Thuỷ, về đến núi Hùng, sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con trai. Khi các con khôn lớn, cha Lạc Long Quân đưa 50 người con xuôi về vùng biển mở mang bờ cõi. Mẹ Âu Cơ đưa 49 người con lên vùng đất khi đó là trang Hiền Lương, quận Hạ Hòa, trấn Sơn Tây sinh cơ lập nghiệp, khai hoang, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, dậy dân cấy lúa, xây dựng cuộc sống. Khi trang ấp ở Hiền Lương đã ổn định phát triển, bà lại cùng các con đi khai phá các vùng đất mới. Sau này, bà quyết định trở về sống với mảnh đất Hiền Lương, nơi gắn bó nhất với cả cuộc đời bà. Trong dân gian hình ảnh mẹ Âu Cơ là người mẹ đầu tiên khai sinh ra cả dân tộc. Về sau nhân dân trong vùng đã dựng lên một ngôi miếu thờ phụng bà, đời đời hương khói tưởng nhớ công ơn của bà đối với toàn dân tộc ta.Về thăm di tích lịch sử Đền Hùng, viếng đền Mẫu Âu Cơ, thể hiện đạo lý truyền thống của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”.
PHÚ THỌ - Đền Mẫu Âu Cơ - ảnh 2
PHÚ THỌ - Đền Mẫu Âu Cơ - ảnh 3
PHÚ THỌ - Đền Mẫu Âu Cơ - ảnh 4
Đền thờ Mẫu Âu Cơ (nguồn internet)

Đền thờ Mẫu Âu Cơ là một công trình văn hoá lớn của thời đại chúng ta - con cháu các vua Hùng xây dựng nên, nhằm mục đích “quy tụ” và “hội tụ” văn hoá “Đền Hùng”. Bổ sung cho quần thể kiến trúc tín ngưỡng trong di tích lịch sử Đền Hùng, thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Tổ Mẫu Âu Cơ người mẹ thiêng liêng huyền thoại của dân tộc Việt Nam.
Tri ơn công đức Mẫu Âu Cơ và giáo dục truyền thống dân tộc nhân dân ta lấy ngày lễ chính của Đền Âu Cơ là ngày “Tiên giáng” mùng bảy tháng giêng, ngoài ra trong năm còn có các ngày lễ khác là ngày 10-11 tháng 2, ngày 12 tháng 3, ngày 13 tháng 8, ngày “Tiên thăng” 25 tháng Chạp.
Nhân dân trong vùng từ già, trẻ, gái, trai ai cũmg thuộc câu ca:
“Mồng bảy trong tiết tháng giêng
Dân Hiền tế lễ trống chiêng vang trời...”
Nghi lễ của ngày hội: Vào sáng sớm mồng 7 tháng giêng tổ chức lễ tế Thành Hoàng ở Đình, đây là đội tế toàn nam giới; Đến giờ Thìn (từ 7 đến 9 giờ) đoàn rước kiệu từ Đình Đức Ông vào đến sân Đền, phường Bát âm chỉ dùng Đàn, Sáo, Nhị, Trống, phách....Lễ vật dâng Mẫu bao gồm: cỗ chay, ngũ quả, tiền giấy ngũ sắc ...Đội tế nữ gồm 12 cô gái thanh tân có nhan sắc và học vấn, mặc áo dài với các mầu sặc sỡ và tế theo nghi lễ truyền thống.
Huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ và bọc trăm trứng nhằm tôn vinh nòi giống Tiên Rồng của dân tộc Việt Nam. Hình tượng vĩ đại ấy là kết tinh của những cốt lõi lịch sử, mang đậm tính nhân văn sâu sắc, là đặc trưng văn hoá thể hiện bản sắc của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đó đã thực sự là nền tảng tinh thần vững chắc, được người Việt Nam qua các thời đại luôn hun đúc và thể hiện bản lĩnh kiên cường, tình yêu nước nồng nàn, luôn kề vai sát cánh, đoàn kết bên nhau với ý thức cùng chung nguồn cội “đồng bào”, dũng cảm đấu tranh với thiên nhiên, với mọi kẻ thù xâm lược để bảo vệ và xây đắp nên Tổ quốc Việt Nam.
Tô Giang (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

Trang thông tin điện tử huyện Hạ Hòa http://hahoa.phutho.gov.vn
Cội nguồn dân tộc http://denhung.org.vn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác