QUẢNG BÌNH – Cảng cá Thanh Khê

QUẢNG BÌNH – Cảng cá Thanh Khê - ảnh 1
Cảng cá Thanh Khê - sông Gianh huyền thoại (nguồn internet)
(Cinet - DL) - Cảng cá Thanh Khê hay cảng cá sông Gianh trở thành Di tích lịch sử quan trọng của con đường vận tải huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển Đông.
1. Di tích/Di sản:  Cảng cá Thanh Khê (cảng cá sông Gianh) 
2. Thời gian: Tháng 7/1959, Bộ Tổng tư lệnh thành lập Tiểu đoàn vận tải thủy 603, chi viện cho miền Nam bằng đường biển. Tiểu đoàn được mang tên “Tập đoàn đánh cá sông Gianh”. Tiểu đoàn 603 vận tải biển trực thuộc Đoàn 559 được thành lập.
Tháng 9/1959, tiểu đoàn đã cơ bản xây dựng xong doanh trại, đóng hoàn chỉnh 2 thuyền.
Đầu tháng 11/1959, đội thuyền 12 chiếc của Tiểu đoàn 603 đã chuẩn bị hàng để chuẩn bị rời bến.
Cuối tháng 01/1960, vào đêm 27/01(đêm 30 tết Canh Tý), con thuyền chở vũ khí đầu tiên của Tiểu đoàn 603 được lệnh rời cảng Thanh Khê vào giao hàng cho Liên khu V.
Năm 1968, Quảng Bình tham gia chiến dịch vận tải VT5. Cảng Gianh là nơi vận tải hàng nghìn tấn hàng hóa vận chuyển vào Nam. Cả cảng sông Gianh rộn rang như ngày hội. Năm 1972, đế quốc Mĩ lại liều lĩnh cho một tuần dương hạm và 4 khu trục hạm đội 7 chạy sát bờ biển bắn trên 500 quả đạn pháo cỡ lớn vào sâu trong nội địa. Cảng Gianh là mục tiêu đánh phá, phong tỏa ác liệt của Mĩ.
Đêm 13/01/1973, 156 công nhân cảng Gianh đang làm nhiệm vụ bốc xếp chuyển hàng tại cảng Gianh thì bị bom Mĩ làm bị thương.
3. Năm công nhận: Ngày 07/05/2009, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã công nhận Di tích Cảng cá sông Gianh (cảng cá Thanh Khê) là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.
4. Địa hình/Vị trí: Cửa sông có cảng biển gọi là Cảng Gianh (Cảng Thanh Khê) - xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. 
Khu vực Bố Trạch giới hạn từ tây sông Long Đại đến phía nam sông Gianh bao gồm một phần đất Quảng Ninh, Đồng Hới, Tuyên Hoá, trung tâm là huyện Bố Trạch. Khu vực này có địa hình liền dải, rộng, tầng đất dày, ít chia cắt.
Vùng đồng bằng ven biển có độ cao dưới 10m phân bố chủ yếu ở hạ lưu các con sông lớn trong tỉnh, tạo thành những bình nguyên và bồn trũng thuộc các huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, có tổng diện tích 54.000 ha chiếm 6% diện tích toàn tỉnh. Vùng này bao gồm 2 tiểu vùng:
* Tiểu vùng đồng bằng phù sa có diện tích khoảng 44.000 ha chiếm gần 80% diện tích dải đồng bằng ven biển, phân bố chủ yếu ở lưu vực trung lưu và hạ lưu các nhánh sông Kiến Giang, Long Đại, sông Gianh tạo nên 2 đồng bằng chính là Lệ Ninh và Nam Quảng Trạch.
* Tiểu vùng đất nhiễm mặn và phèn nằm ở các cửa sông giáp với biển, có khoảng 10.000 ha chiếm 20% diện tích dải đồng bằng ven biển, một phần diện tích bị nhiễm mặn do thuỷ triều, một phần diện tích nhiễm phèn do vật liệu sinh phèn phát triển trong môi trường yếm khí và mặn mạch, có nhiều ở các vùng thuộc hạ lưu sông Nhật Lệ, sông Gianh và sông Roòn.
- Vùng ven biển chủ yếu là dải cát nội đồng hình lưỡi liềm hay hình rẽ quạt có tổng diện tích 358,40 km2 chiếm 4% tổng diện tích đất tự nhiên, độ cao từ 3 - 4 mét đến 50 mét, phân phối suốt chiều dài bờ biển của tỉnh.
Vùng cát ven biển có chiều rộng và chiều cao tăng dần từ Bắc vào Nam, ở phía Bắc dải cát hẹp và thấp, có chiều rộng từ 300 đến 400m độ cao từ +5 đến +10m, càng về phía Nam dải cát càng mở rộng (từ 1 - 6km), có độ cao 17 - 20m, có đỉnh đạt đến độ cao 50m. Địa hình mặt dải cát rất phức tạp. Có thể phân chia thành 3 vùng chính:
+ Vùng phía Bắc tỉnh, giới hạn từ Mũi Dốc đến sông Gianh, là vùng kém phát triển, bề rộng dải cát từ 600 đến 1.500m, độ cao phổ biến 5m. Địa hình đơn giản, hình sống trâu, dốc về 2 phía.
+ Vùng từ sông Gianh đến Lý Hoà. Bề rộng dải cát khoảng từ 600 đến 1.000m, độ cao phổ biến +10, địa hình dạng sống trâu. Độ dốc có nơi 30 -400.
+ Vùng từ cửa Lý Hoà đến Nhật Lệ. Độ rộng tăng dần từ 1.000 - 1.800m, độ cao phổ biến tăng từ 10 - 20m. Địa hình, địa mạo khá phức tạp. Có nhiều đồi cát cao và dài, mái dốc 50 - 600, có nhiều bậc lỡ về phía biển.
+ Vùng từ cửa Nhật Lệ đến giáp Vĩnh Linh, Bề rộng 4 - 6 km, độ cao 30 - 40m có đỉnh cao 50m, nhiều dải cát dài nối liền nhau xen lẫn nhiều khối cát cao và bồn trũng. Địa hình phức tạp và thường xuyên biến động do tác động ngoại lực của thời tiết khí hậu.
Sự xuất hiện hệ thống cồn cát ven biển là yếu tố địa hình bất lợi nhiều mặt. Dươí tác động của gió, hiện tượng cát bay, cát chảy đã làm cho các cồn cát tiến dần về phía lục địa, thu hẹp đồng bằng ven biển vốn dĩ đã nhỏ bé lại càng nhỏ bé hơn, làm tăng tình trạng úng lụt vùng cửa sông, nhất là cửa sông Nhật Lệ.
5. Thổ nhưỡng: Tổng diện tích đất tự nhiên của Quảng Bình là 805.186 ha, trong đó sông suối là 16.803 ha, chiếm 2,09% ; Núi đá 617.706 ha , chiếm 76,72% tổng diện tích đất tự nhiên.
Căn cứ vào tiêu chí phân loại đất của FAO - UNESCO, đất Quảng Bình được chia thành 10 nhóm đất  -23 đơn vị đất - 56 đơn vị đất phụ. Phần này giới thiệu tài nguyên đất Quảng Bình theo trình tự Nhóm đất (cấp 1), đơn vị đất (cấp 2) và đơn vị đất phụ (cấp 3).
Đất cát Quảng Bình bao gồm cả cồn cát trắng vàng diện tích 27.659 ha chiếm 3,44% diện tích tự nhiên, chiếm 81,98% diện tích đất cát, phân bố ở các xã ven biển thuộc các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Đồng Hới, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ
Đất cát biển trung bình, ít chua: C Diện tích 9.319 ha, chiếm 1,16% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, chiếm 23,0% diện tích đất cát. Phân bố ở các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ.
Đất mặn hình thành từ những sản phẩm phù sa sông, biển, được lắng đọng trong môi trường nước biển, có tổng diên tích 5.427 ha, chiếm 0,68% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Đồng Hới Quảng Trạch và Bố Trạch.
Đất mặn nhiều có tổng diện tích 605 ha, chiếm 0,08% diên tích tự nhiên và 11,4% đất mặn. Phân bố nhiều ở các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch.
Đất mặn nhiều gleyic nông (Mn-gl ) có diện tích 226 ha chiếm 0,03 diện tích đất tự nhiên và 4,16% diện tích đất mặn. Phân bố ở xã Bắc Trạch, Thanh Trạch huyện Bố Trạch.
6. Khí hậu: Đặc điểm chung của khí hậu Quảng Bình là nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh  hưởng sâu sắc của chế độ hoàn lưu khí quyển nhiệt đới như dải hội tụ nhiệt đới , áp cao cận nhiệt đới, vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, một mùa chịu dăc trưng nhiệt đới phía Nam và một mùa chịu dặc trưng rét đậm phía Bắc.
Do địa hình hẹp, bị chia cắt mạnh, núi gần sát với biển và ở vĩ độ thấp nên diễn biến khí hậu phức tạp, vừa có tính lục địa, vừa ảnh hưởng của khí hậu biển, phản ánh sự giao tranh của khí hậu cả hai chiều Nam - Bắc, Đông - Tây.   Các yếu tố khí hậu mang tính phân cực lớn. Mỗi năm khí hậu chia làm 2 kỳ rõ rệt: mùa mắng nóng và mùa mưa rét, đối lập với một chu kỳ hạn hán gay gắt là một chu kỳ ẩm độ rất cao. Mùa mưa đi kèm với rét và bão, lụt. Mùa nắng đi liền với gió tây khô nóng (gió Lào) và hạn hán.
7. Dân cư: Cùng với người Việt, Quảng Bình là địa bàn cư trú của một bộ phận các dân tộc và tộc người thuộc 2 nhóm ngôn ngữ Việt - Mường và Môn - Khơme.
Các dân tộc và tộc người thiểu số ở Quảng Bình có số lượng rất ít.
Cư dân các dân tộc ít người ở Quảng Bình phân bố rải rác trên địa bàn sườn đông dãy Trường Sơn, thuộc phía tây Quảng Bình trên một vùng diện tích gần 600 km2.
Đến những năm đầu thế kỷ XXI, đại bộ phận dân cư các dân tộc ít người ở Quảng Bình quần cư trong những cộng đồng độc lập, riêng rẽ theo nhóm cận huyết hoặc theo tộc người dưới hình thức các bản. Tuy có biến động về dân số trong mỗi bản nhưng hầu như tổ chức bản của các dân tộc ít người ở Quảng Bình ít biến động. Kết quả điều tra trong những năm cuối thế kỷ XX cho thấy các dân tộc ít người của Quảng Bình sinh sống trong 138 bản, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Tuyên Hoá và Minh Hoá, một số ít phân bố dọc theo triền núi phía tây các huyện Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thuỷ.
Theo danh mục các dân tộc thiểu số ở Việt Nam do Nhà nước công bố thì ở Quảng Bình chỉ có 2 dân tộc là dân tộc Bru - Vân kiều (bao gồm các tộc người Vân kiều, Macoong, Trì và Khùa) và dân tộc Chứt (bao gồm các tộc người Sách, Mày, Rục, arem, Mãliềng). Ngoài thành phần của 2 dân tộc chính trên đây, địa bàn Quảng Bình còn là nơi cư trú của một số tộc người khác (còn gọi là "vi tộc dân" hay "nhóm địa phương" cuả các dân tộc khác) như Nùng, Mường Thổ, Tày, Carai…
8. Tóm tắt nội dung:
Giá trị lịch sử nổi bật:

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Bình là “mạch máu của những mạch máu giao thông”, là “cửa ngõ”, “cổ họng, yết hầu”, nối liền cơ thể Bắc – Nam.
Ngày nay chiến tranh đã đi qua, địa điểm Cảng cá sông Gianh trở thành Di tích lịch sử quan trọng của con đường vận tải huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển Đông. Cảng cá Thanh Khê (cảng cá sông Gianh) là nơi ta tập kết lực lượng, hàng hóa trước khi vận chuyển ra chiến trường, do vậy nơi đây trở thành “tọa độ lửa” trọng điểm bị địch tập kích đánh phá. Cảng đã được các lực lượng quân sự bảo vệ bằng mọi giá, đảm bảo tuyến vận tải đạt hiệu quả cao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta.
QUẢNG BÌNH – Cảng cá Thanh Khê - ảnh 2
QUẢNG BÌNH – Cảng cá Thanh Khê - ảnh 3
QUẢNG BÌNH – Cảng cá Thanh Khê - ảnh 4
QUẢNG BÌNH – Cảng cá Thanh Khê - ảnh 5
Sông Gianh huyền thoại (nguồn internet)

Thực hiện Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị, “Đoàn quân sự đặc biệt” (Đoàn 559) được thành lập. Đó là khởi nguồn của đường Trường Sơn lịch sử. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, tháng 7/1959, Bộ Tổng tư lệnh thành lập Tiểu đoàn vận tải thủy 603, chi viện cho miền Nam bằng đường biển. Tiểu đoàn được mang tên “Tập đoàn đánh cá sông Gianh”. Sau khi nhận nhiệm vụ, Ban cán sự Đoàn 559 trực tiếp đến các sư đoàn 325,324, “1-5”, “19-5” và các tập đoàn sản xuất miền Nam ở Hà Tĩnh, Ninh Bình để tuyển chọn những cán bộ chiến sĩ quen nghề sông nước, thông thuộc vùng biển phía Nam. Đoàn 559 đã chọn được 107 cán bộ, chiến sĩ với hơn 90% là Đảng viên. Đa số các đồng chí đều sinh trưởng ở các vùng ven biển Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Tháng 7/1959, Tiểu đoàn 603 vận tải biển trực thuộc Đoàn 559 được thành lập. Đồng chí Hà Văn Xá, nguyên là cán bộ Cục Hải quân làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Lưu Đức làm chính trị viên tiểu đoàn. Ở Hà Nội,sau khi ổn định tổ chức, tiểu đoàn được lệnh hành quân vào cảng cá Thanh Khê, đóng quân tại xã Thanh Trạch, thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, cách cảng quân sự Gianh về phía Nam 4km. Để giữ bí mật và che mắt địch, tiểu đoàn lấy danh nghĩa “ Tập đoàn đánh cá sông Gianh” chuyên khai thác, đánh bắt thủy sản biển. Vừa vào vị trí tập kết, tiểu đoàn vừa khẩn trương xây dựng doanh trại, vừa chuẩn bị thuyền buồm và các loại “ngư cụ” khác. Để có được những chiếc thuyền biển như Liên khu V, nhiều cán bộ chiến sĩ miền Nam biết nghề mộc đã được điều về Tiểu đoàn 603 để đóng thuyền.
Sau 2 tháng khẩn trương xây dựng, tháng 9/1959, tiểu đoàn đã cơ bản xây dựng xong doanh trại, đóng hoàn chỉnh 2 thuyền. Một thuyền có trọng tải 7 tấn, một thuyền có trọng tải hai tấn, thuyền được đóng có hai đáy, cải trang thành thuyền buồm đánh cá miền Nam, phía trên để ngư lưới cụ, phía dưới để chứa vũ khí. Tiểu đoàn chủ động tổ chức cho bộ đội đánh cá và vận tải chuyển tiếp tế cho bộ đội ở đảo Cồn Cỏ, kêt hợp tập dượt làm quen sông nước. Ban cán sự Đoàn 559 đề nghị Quân khu IV tăng cường đội thuyền vận chuyển hàng ra đảo Cồn Cỏ cho Tiểu đoàn 603, đồng thời khẩn trương đóng thêm thuyền, chuẩn bị hàng, tìm hiểu quy luật hoạt động của địch trên biển. Để thực hiện nhiệm vụ, Tiểu đoàn 603 đã chuẩn bị mọi yếu tố đủ để chuẩn bị bước vào chiến dịch.
Đầu tháng 11/1959, đội thuyền 12 chiếc của Tiểu đoàn 603 đã chuẩn bị hàng để chuẩn bị rời bến, Ban cán sự đoàn 559 phối hợp với Khu ủy khu V chỉ đạo cơ sở hoạt động “nội tuyến”, chuẩn bị cho từng thủy thủ đồ nghề giống như ngư dân ven biển Quảng Nam, Quảng Ngãi. Mỗi người đều có đầy đủ giấy tờ, căn cước có chữ ký dấu nổi của tỉnh trưởng Quảng Nam.
Cuối tháng 01/1960, vào đêm 27/01(đêm 30 tết Canh Tý), con thuyền chở vũ khí đầu tiên của Tiểu đoàn 603 được lệnh rời cảng Thanh Khê vào giao hàng cho Liên Khu 5. Tiểu đoàn 603 chuyến ra quân đầu tiên vận chuyển 5 tấn vũ khí và thuốc quân y vào cho chiến trường Khu 5. Điểm đến là bến Hồ Chuối dưới chân đèo Hải Vân. Sáu cán bộ, thuyền viên được chọn đưa chuyến hàng đầu tiên này là các anh: Nguyễn Bất (thuyền trưởng), Trần Mức (thuyền phó), Nguyễn Sanh, Huỳnh Sơn, Nguyễn Nữ và Huỳnh Ba, Đúng phút giao thừa, thuyền kéo neo rời bến. Cũng từ lúc đó, tất cả Ban cán sự Đoàn 559 cùng cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 603 sống trong hy vọng bồn chồn. Nhưng rồi ngày qua ngày, tất cả đều rơi vào tĩnh lặng. Mấy ngày sau, tổ điện đài từ chân đèo Hải Vân báo về không thây bóng dáng thuyền vào. Mãi sau này mọi người mới được biết: Sau khi rời cảng Thanh Khê, các thủy thủ cho thuyền chạy ra vùng biển quốc tế, để từ đó tiến dần về Nam và cập chân đèo Hải Vân. Nhưng ngày hôm sau, gió chuyển hướng Đông Nam mỗi lúc một to hơn. Sóng biển duyền lên như muốn nuốt chửng con thuyền. Sáu anh em gắng sức chống chọi với sóng gió, cố giữ làm sao để thuyền khỏi lật, đưa thuyền vào được vùng biển Quảng Nam thì bất ngờ thuyền bị gãy bánh lái và trôi dạt đến Cù Lao Xanh (thuộc vùng biển tỉnh Quảng Ngãi). Lực lượng phòng thủ của địch đã phát hiện và lập tức vây bắt thuyền của ta. Để giữ bí mật việc mở tuyến vận tải chiến lược chi viện từ miền Bắc vào miền Nam bằng đường biển, thuyền trưởng Nguyễn Bất đã kịp quyết định thả hàng xuống biển trước khi 6 cán bộ, thuyền viên rơi vào tay địch. Các đồng chí của ta bị địch bắt, tra khảo dã man và đưa đi nhiều nhà tù, song các đồng chí vẫn một lòng kiên trung với Đảng, với cách mạng, giữ vững bí mật tuyến đường và phương thức vận chuyển. Tiểu đoàn 603 (Đoàn 559) – Tập đoàn đánh cá sông Gianh chỉ ra đời, hoạt động trong  một thời gian ngắn, thực hiện một số chuyến vận tải ra đảo Cồn Cỏ và thực hiện chuyến vận tải vào Nam. Đây là chuyến vận tải đầu tiên tuy không thành nhưng đã cung cấp thêm nhiều kinh nghiệm quý báu về phương thức vận chuyển vũ khí, hàng hóa bí mật chi viện chiến trường miền Nam.
Sang năm 1964 – 1965, đế quốc Mĩ mở rộng hoạt động không quân, hải quân, tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Chúng lấy cớ và dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” ngày 05/08/1964, chính thức dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc. Tại cảng Gianh, ngày 02/03/1965, đế quốc Mĩ cho 160 lần chiếc máy bay cất cánh từ các tàu sân bay mở cuộc tiến công lớn vào căn cứ hải quân sông Gianh nhằm tiêu diệt và đánh phá cơ sở cầu cảng và tàu chiến của ta. Các chiến sĩ hải quân và lực lượng phòng không cảng Gianh vẫn kiên cường bám trụ đánh thắng trận tập kích lớn của địch. Ngoài bom đạn từ máy bay Mĩ, chúng còn bắn đạn từ các tàu chiến ngoài khơi vào. Sang năm 1967, đế quốc Mĩ huy động hơn 50 tàu chiến hoạt động dọc bờ biển từ Vĩnh Linh trở ra bắn vào các tàu vận tải của ta. Chúng thả các loại bom từ trường, thủy lôi phong tỏa cảng Gianh, khu tiếp nhận phân phối hàng, bến phà, cửa sông lạch,…Tàu chiến Mĩ dùng pháo 127 ly, 203 ly, máy bay thả bom lân tinh, bom cháy đốt cháy cây cối dọc các trục đường chiến lược. Ngày 01/03/1967, Đại đội 8 pháo binh Quảng Bình bắn bị thương một chiến hạm Canbera của Mĩ. Quân dân cảng Gianh vẫn kiên cường đánh trả máy bay, tàu chiến Mĩ, vẫn bám đường, bám trận địa sẵn sang thông đường cho xe qua trong mọi tình huống. Để lấp một đoạn đường ở phía Nam Gianh phục vụ chiến dịch Trị Thiên Huế có đêm đã hy sinh 88 người.
Năm 1968, Quảng Bình tham gia chiến dịch vận tải VT5. Cảng Gianh là nơi vận tải hàng nghìn tấn hàng hóa vận chuyển vào Nam. Cả cảng sông Gianh rộn rang như ngày hội. Năm 1972, đế quốc Mĩ lại liều lĩnh cho một tuần dương hạm và 4 khu trục hạm đội 7 chạy sát bờ biển bắn trên 500 quả đạn pháo cỡ lớn vào sâu trong nội địa. Cảng Gianh là mục tiêu đánh phá, phong tỏa ác liệt của Mĩ.
Chiến dịch “Hòn La” 1972 ra đời để vận tải số lượng lớn lương thực do các nước bạn viện trợ vào miền Nam đã được triển khai. Sau khi tiếp nhận từ tàu Hồng Kỳ đỗ ở vịnh Hòn La, sẽ chuyển tiếp vào cảng Gianh để rồi từ đó vận chuyển vào Nam.
Từ ngày 01/01/1973 đến ngày 15/01/1973, Mĩ đã cho 165 máy bay B52, F111 bắn phá bừa bãi xuống trạm trung chuyển cảng Gianh. Đêm 13/01/1973, 156 công nhân cảng Gianh đang làm nhiệm vụ bốc xếp chuyển hàng tại cảng Gianh thì bị bom Mĩ làm bị thương. Đây là vụ tàn sát đẫm máu nhất do đế quốc Mĩ gây ra sau khi ký hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Quân và dân, công nhân đứng chân trên cảng Gianh vẫn kiên cường bám trụ, anh dũng kề vai sát cánh, cùng nhau đánh thăng mọi thủ đoạn của đế quốc Mĩ, đảm bảo, bảo vệ vững chắc tuyến giao thông vận tải biển.
Tiểu đoàn vận tải biển 603 -  “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” - chỉ tồn tại trong vòng gần 10 tháng, nhưng đã để lại những kinh nghiệm quý để sau này tổ chức thành công Đoàn tàu không số và tuyến vận tải đặc biệt: Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Tô Giang (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

Báo nhân dân http://www.nhandan.com.vn
Người Quảng Bình http://nguoiquangbinh.net
Báo Quảng Bình http://baoquangbinh.vn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác