QUẢNG BÌNH – Quảng Bình Quan

 
QUẢNG BÌNH – Quảng Bình Quan - ảnh 1
Quảng Bình Quan (nguồn internet)
(Cinet - DL) - Quảng Bình Quan là một minh chứng lịch sử, một trong những thành lũy kiên cố, và trọng yếu hàng đầu của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong
1. Di tích/Di sản: 
Quảng Bình Quan
Quảng Bình Quan có nhiều tên gọi, người thì nói đó là cửa vào dinh Quảng Bình, người thì gọi là Công Bình Quan.
Sử Triều Nguyễn ghi rõ ràng, Quảng Bình Quan vốn có tên là Lý Chính Đại Quan Môn.
Khi Minh Mạng cho xây gạch mới đổi làm Võ Thắng Quan.
2. Thời gian: Quảng Bình Quan được đắp bằng đất vào năm 1631, là hệ thống thành lũy cổ được xây dựng để bảo vệ kinh đô cổ.
Quảng Bình Quan được xây dựng từ năm 1639 từ thời Chúa Nguyễn.
Năm 1825, vua Minh Mạng đã cho trùng tu Quảng Bình Quan và nâng cao thêm tầng tháp canh bằng loại gạch nung kiên cố.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép: “Cửa Quan dài hai trượng một thước, rộng hai trương năm thước, thành ngoài bảo vệ cửa quan dài 14 trượng 6 thước cao 3 thước, năm Minh Mạng thứ 6 (1826) xây gạch đá…”
Trước Cách mạng tháng 8/1945, Quảng Bình Quan (phía đường Đức Ninh) còn có hào ngoài thành, có cầu gạch vòng qua hào và phía ngã ba giữa hai con đường Đức Ninh và Cầu Rào (ngày xưa thời Chúa Nguyễn là đường thiên lý và đường thượng đạo) còn có một âm hồn trên một nghĩa địa lớn.
Quảng Bình Quan bị quân đội Pháp phá hủy khi họ rút khỏi Đồng Hới năm 1954, sau đó Nhà nước ta xây lại gần giống như cũ.
Năm 1965, chiến tranh phá hoại, bị máy bay của Mỹ đánh tan. Hiện nay nhân dân thị xã Đồng Hới và Nhà nước đã phục chế lại.(gần đúng như cũ).
Quảng Bình Quan hiện đang nằm tại trung tâm phường Hải Đình (thuộc thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình) giữa bốn ngả đường: phía Tây là đường đi lên Đức Ninh, phía Đông là đường Mẹ Suốt đi xuống bến Nhật Lệ, phía Bắc là đường đi Hà Nội, phía Nam là đường đi Huế.
3. Năm công nhận: Năm 1992, Quảng Bình Quan được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia
4. Địa hình/Vị trí: Quảng Bình Quan (mới phục chế lại) hiện đang ở trung tâm phường Hải Đình giữa bốn ngả đường: phía Tây là đường đi lên Đức Ninh, phía Đông là đường Mẹ Suốt đi xuống bến sông Nhật Lệ, phía Bắc là đường đi Hà Nội, phía Nam là đường đi Huế
5. Thổ nhưỡng: Tài nguyên đất được chia thành hai hệ chính: Đất phù sa ở vùng đồng bằng và hệ pheralit ở vùng đồi và núi với 15 loại và các nhóm chính như sau: nhóm đất cát, đất phù sa và nhóm đất đỏ vàng. Trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên, chủ yếu ở địa hình đồi núi phía Tây, đất cát chiếm 5,9% và đất phù sa chiếm 2,8% diện tích.
Vùng đồng bằng: Thành phố Đồng Hới có vùng đồng bằng nhỏ hẹp, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai kém phì nhiêu; độ cao trung bình 2,1m, dốc về hai phía trục đường Quốc lộ 1A, độ dốc nhỏ, chỉ khoảng 0,2%. Diện tích tự nhiên khoảng 576ha, chiếm 3,8% so với diện tích toàn thành phố. Đây là nơi tập trung dân cư và các cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu của thành phố.
6. Khí hậu: Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu của phía Bắc và phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm 2.000 - 2.300mm/năm. Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11.
+ Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24oC - 25oC. Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8.
Khí hậu Đồng Hới có nhiệt độ trung bình năm 24,40C, lượng mưa trung bình từ 1.300 đến 4.000 mm, tổng giờ nắng 1.786 giờ/năm, độ ẩm trung bình trong năm khoảng 84% và thuộc chế độ gió mùa: gió Đông Nam (gió nồm), gió Tây Nam (gió nam), gió Đông Bắc.
7. Dân cư: Dân số Quảng Bình có 863.350 người vào năm 2013. Phần lớn cư dân địa phương là người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru – Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem,… Dân cư phân bố không đều, 84,80% sống ở vùng nông thôn và 15,20% sống ở thành thị
8. Tóm tắt nội dung:
Giá trị lịch sử nổi bật:

Quảng Bình Quan là một minh chứng lịch sử, một trong những thành lũy kiên cố, và trọng yếu hàng đầu của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Quảng Bình Quan được xây dựng từ hơn 400 năm trước, nằm trong hệ thống Lũy Thầy, bao gồm Lũy Trường Dục, Lũy Trấn Ninh, Lũy Nhật Lệ, Lũy Trường Sa kéo dài hơn 30 km. Hệ thống Lũy Thầy do Quân sư chúa Nguyễn là Đào Duy Từ (1572-1634) thiết kế và trực tiếp chỉ đạo xây dựng từ năm 1631-1634, nhằm giúp Chúa Nguyễn ở Đàng Trong chống lại các đợt tấn công của Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
QUẢNG BÌNH – Quảng Bình Quan - ảnh 2
QUẢNG BÌNH – Quảng Bình Quan - ảnh 3
QUẢNG BÌNH – Quảng Bình Quan - ảnh 4
QUẢNG BÌNH – Quảng Bình Quan - ảnh 5
Quảng Bình Quan (nguồn internet)

Theo sách “Trịnh- Nguyễn diễn chí” của Nguyễn Khoa Chiêm viết từ hơn 200 năm trước đã mô tả hết sức tỷ mỉ công cuộc xây dựng Luỹ Thầy. “...Năm Tân Mùi, niên hiệu Đức Long thứ 3(1631), Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ vâng mệnh Chúa Nguyễn ra phủ Quảng Bình hạ lệnh cho dân đắp luỹ ở cửa Biển Nhật Lệ...Địa thế luỹ này tựa núi gần khe rất chắc chắn, ngăn cách với đất Bắc, hiểm trở chẳng khác gì đang đi vào đất Thục...”.
Là trung tâm của hệ thống Lũy Thầy, Quảng Bình Quan được xây dựng theo một mô hình kiến trúc độc đáo, kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố, vừa là chiến luỹ phòng ngự chiến đấu kiên cố vững chắc, vừa là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Nằm trấn giữ con đường huyết mạch Bắc - Nam và đường thuỷ từ cửa biển Nhật Lệ vào, nhờ vậy mà hơn 7 lần quân của Chúa Trịnh vượt Sông Gianh vào Nam đều bị chặn đứng ở cửa ải này.
 Tuy là chứng tích đau thương của một thời phân tranh đất nước, nhưng Quảng Bình quan cũng như hệ thống Luỹ Thầy đã thể hiện sự phát triển cao của nghệ thuật kiến trúc thành luỹ quân sự Việt Nam, là địa chỉ tin cậy cho các nhà nghiên cứu kiến trúc và quân sự sau nay.
Có lẽ cũng nhờ Quảng Bình Quan và hệ thống Lũy Thầy mà chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã ung dung thực hiện lời sấm của Trạng Trình-Nguyễn Bỉnh Khiêm, “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân...”. Vì vậy, năm 1825, vua Minh Mạng đã cho trùng tu Quảng Bình Quan và nâng cao thêm tầng tháp canh bằng loại gạch nung kiên cố.
 Sau khi khánh thành nhà vua đã xếp Quảng Bình Quan là một trong những công trình văn hoá lịch sử đặc sắc của đất nước, cho đúc nổi hình ảnh Quảng Bình Quan vào Nghi Đỉnh đặt trước Thế Miếu trong Tử Cấm Thành.
Hơn 400 năm nay, với biết bao biến thiên thăng trầm của lịch sử, cũng như sự khắc nghiệt của miền đất nắng lửa gió Lào, Quảng Bình Quan xuống cấp nghiêm trọng. Đặc biệt năm 1947 sau khi trở lại cướp nước ta một lần nữa, thực dân Pháp đã biến Quảng Bình Quan thành giá treo cổ những chiến sỹ du kích địa phương và năm 1954 trước khi rút chạy bọn chúng còn cho đặt mìn đánh sập từng trên của tháp canh. Mãi đến năm 1961 nhân dân Quảng Bình mới trùng tu lại được nguyên vẹn, nhưng không lâu sau đó, năm 1966 không quân Mỹ leo thang đánh phá Miền Bắc, Quảng Bình nơi đầu tuyến lửa phải hứng chịu hàng triệu tấn bom đạn, Quảng Bình Quan cũng như Thị xã Đồng Hới chỉ còn lại là đóng tro tàn gạch đổ. Thế nhưng trong suốt hành trình lịch sử của người dân Quảng Bình, Quảng Bình Quan đã trở thành chứng tích đau thương, thành biểu tượng bất khuất của quê hương.
Quảng Bình Quan đã hồi sinh nguyên vẹn như xưa. Ngày nay, Quảng Bình Quan đang trở thành một điểm thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu.
Tô Giang (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
Du lịch Quảng Bình http://dukhach.quangbinh.gov.vn
http://www.quangbinhtourism.vn
Wikipedia https://vi.wikipedia.org



 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác