QUẢNG NAM – Phố cổ Hội An

QUẢNG NAM – Phố cổ Hội An - ảnh 1
Góc Hội An (nguồn internet)
(Cinet - DL) -  Hội An là trung tâm mậu dịch lớn nhất của Đàng Trong và cả nước Đại Việt, là một trong những thương cảng sầm uất của vùng biển Đông Nam Á.
1. Di tích/Di sản:  Phố cổ Hội An
2. Thời gian: Hội An xưa kia đã có một thời nổi tiếng với tên gọi Faifoo mà các thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Italia... đã biết đến từ thế kỷ 16 - 17. Hồi đó thương cảng Hội An thịnh vượng, là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á.
Thương cảng Hội An hình thành trong khoảng thế kỷ 15-16, thịnh đạt trong thế kỷ 17-18, nhưng trước đó rất lâu (từ thế kỷ 2 SCN trở về trước), vùng đất Hội An đã nằm trong địa bàn phân bố của văn hóa tiền Sa Huỳnh - đến Sa Huỳnh và còn là một cảng thị trọng yếu của Champa (từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 15).
Trong thời thịnh đạt, đặc biệt trong nửa đầu thế kỷ 17, Hội An là trung tâm mậu dịch lớn nhất của Đàng Trong và cả nước Đại Việt, là một trong những thương cảng sầm uất của vùng biển Đông Nam Á.
Thế kỷ 17, Hội An có “phố Nhật”, “phố Khách”, có thương điếm Hà lan…và đó là một trung tâm giao lưu kinh tế rộng lớn, một Đô thị- Thương cảng có tầm cỡ quốc tế.
Thế kỷ 19, do nhiều nguyên nhân bên trong và bên ngoài, do cả những biến đổi của địa hình sông nước, hoạt động kinh tế và vai trò của Hội An suy giảm dần kết thúc thời kỳ thương cảng thuyền buồm và nhường chỗ cho thương cảng thuyền máy Đà Nẵng phát triển.
Hội An được bảo tồn tương đối nguyên vẹn cho đến ngày nay với tư cách một khu phố - Thương cảng cổ.
3. Năm công nhận: Ngày 01/12/1999 UNESCO đã công nhận Khu Phố cổ Hội An là Di sản văn hóa thế giới với tiêu chí (ii) tại Hội nghị lần thứ 23 của Ủy ban di sản Thế giới họp tại Marrakesh (Morocco).
4. Địa hình/Vị trí: Khu phố cổ nằm trọn trong phường Minh An, diện tích khoảng 2 km², với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ. Nằm sát với bờ sông là đường Bạch Đằng, tiếp đó tới đường Nguyễn Thái Học rồi đường Trần Phú nối liền với Nguyễn Thị Minh Khai bởi Chùa Cầu. Do địa hình khu phố nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, các con đường ngang Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ và Trần Quý Cáp hơi dốc dần lên nếu đi ngược vào phía sâu trong thành phố. Đường Trần Phú xưa kia là con đường chính của thị trấn, nối từ Chùa Cầu tới Hội quán Triều Châu. Vào thời Pháp thuộc, đường này được mang tên Rue du Pont Japonnais, tức Phố cầu Nhật Bản. Ngày nay, đường Trần Phú rộng khoảng 5 mét với nhiều ngôi nhà không có phần hiên, kết quả của lần mở rộng khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hai con đường Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng hình thành muộn hơn, đều do bùn đất bồi lấp. Đường Nguyễn Thái Học xuất hiện năm 1840, sau đó được người Pháp đặt tên là Rue Cantonnais, tức Phố người Quảng Đông. Đường Bạch Đằng ra đời năm 1878, nằm sát bờ sông nên xưa kia từng có tên gọi là Đường Bờ Sông. Nằm sâu về phía thành phố, tiếp theo đường Trần Phú là đường Phan Chu Trinh, con đường mới được xây dựng thêm vào khoảng thời gian sau này. Trong khu phố cổ còn nhiều đường hẻm khác nằm vuông góc với đường chính kéo dài ra đến tận bờ sông.
5. Thổ nhưỡng: Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.040.683ha được hình thành từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa sông, đất phù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá,... Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày. Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản.
6. Khí hậu: Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc. Nhiệt độ trung bình năm 20 – 210C, không có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm. Lượng mưa trung bình 2.000 – 2.500 mm nhưng phân bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 – 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang và ngập lụt ở các huyện đồng bằng.
7. Dân cư: Nằm trên địa phận tỉnh Quảng Nam, Hội An có số dân xấp xỉ 120.000 người. Năm 2012, dân số Quảng Nam là 1.435.629 người, với mật độ dân số trung bình là 139 người/km2; có 4 tộc người thiểu số cư trú lâu đời là người Cơ Tu, người Co, người Gié Triêng, người Xê Đăng và một số tộc người thiểu số mới di cư đến với tổng số dân trên 10 vạn người, chiếm 7,2% dân số toàn tỉnh. Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước .
Quảng Nam có lực lượng lao động dồi dào, với trên 887.000 người (chiếm 62% dân số toàn tỉnh), trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 61,57%, ngành công nghiệp và xây dựng là 16,48% và ngành dịch vụ là 21,95%.
8. Tóm tắt nội dung:
Giá trị lịch sử nổi bật:

Hội An là một kiểu cảng thị truyền thống Đông Nam Á duy nhất ở Việt Nam, hiếm có trên thế giới, Hội An giữ được gần như nguyên vẹn hơn một nghìn di tích kiến trúc như phố xá, nhà cửa, hội quán, đình chùa, miếu, nhà thờ tộc, giếng cổ, mộ cổ…
Các kiến trúc vừa có sắc thái nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, vừa thể hiện sự giao lưu hội nhập văn hoá với các nước phương Đông và phương Tây. Trải qua nhiều thế kỷ, những phong tục tập quán, nghi lễ, sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng cũng như các món ăn truyền thống vẫn lưu giữ, bảo tồn cùng với bao thế hệ người dân phố cổ. Hội An còn có một môi trường thiên nhiên trong lành, êm ả với những làng nhỏ ngoại ô xinh xắn, có nghề thủ công như mộc, làm đồ đồng, gốm….Các nhà nghiên cứu cho rằng kiến trúc cổ ở Hội An hầu hết được làm lại mới từ đầu thế kỷ 19, mặc dù năm khởi dựng có thể xưa hơn nhiều. Kiến trúc cổ thể hiện rõ nhất ở khu phố cổ. Nằm trọn trong địa bàn của phường Minh An, Khu phố cổ có diện tích khoảng 2km², tập trung phần lớn các di tích nổi tiếng ở Hội An. Đường phố ở khu phố cổ ngắn và hẹp, có độ uốn lượn, chạy ngang dọc theo kiểu bàn cờ. Địa hình khu phố cổ có dạng nghiêng dần từ bắc xuống nam. Các công trình kiến trúc trong khu phố cổ được xây dựng hầu hết bằng vật liệu truyền thống: gạch, gỗ và không có nhà quá hai tầng. Du khách dễ nhận ra dấu vết thời gian không chỉ ở kiểu dáng kiến trúc của mỗi công trình mà có ở mọi nơi: trên những mái nhà lợp ngói âm dương phủ kín rêu phong và cây cỏ; những mảng tường xám mốc, xưa cũ; những bức chạm khắc về một con vật lạ hay diễn tả một câu chuyện cổ... Nơi đây hẳn đã thu hút được các nghệ nhân tài hoa về nghề mộc, nề, gốm sứ của người Hoa, người Nhật, người Việt, người Chăm... cho nên mỗi công trình để lại hôm nay còn in dấu ấn văn hoá khá đa dạng, phong phú của nhiều dân tộc.
Đường phố trong khu phố cổ nhỏ và hẹp, những ngôi nhà cổ nằm xen kẽ cùng với các công trình tôn giáo, tín ngưỡng như để minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển của vùng đất này. Hội An cũng là vùng đất ghi dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa giữa các nền văn hóa. Nếu như các hội quán, đền miếu mang dấu tích của nguời Hoa, các ngôi nhà truyền thống đậm nét của người Việt thì một số biệt thự cổ mang dáng vẻ kiến trúc Pháp.
Ở Hội An cái gì cũng đẹp từ mái nhà cổ, cho đến con phố nhỏ hay một cửa hàng bán đồ lưu niệm, một quán ăn bình dân đều rất thu hút khách thăm quan, vì vậy dù có đến với Hội An nhiều lần du khách cũng không cảm thấy nhàm chán. Hiện nay, có 21 di tích được khai thác phục vụ du lịch trong quần thể khu phố cổ Hội An gồm: Chùa Cầu, đình Cẩm Phô; Tụy Tiên Đường Minh Hương; Miếu Quan Công. Nhà cổ Quân Thắng; Đức An; Phùng Hưng; Nhà thờ tộc Trần; Tấn Ký. Hội quánTriều Châu; Quảng Đông; Phúc Kiến. Bảo tàng Lịch sử văn hóa; Gốm sứ mậu dịch; Văn hóa Sa Huỳnh và bảo tàng Văn hóa dân gian. Mộ các thương gia người Nhật Gu Sokukun, Tani Yajirobei, Banjiro và Xưởng thủ công - mỹ nghệ, Xưởng thêu XQ Hội An.
Đặc trưng kiến trúc của Hội An là phố xinh dù nhà nhỏ, đường hẹp. Nhà thường hình ống, một đến hai tầng, 2 - 5 gian, kết cấu khung gỗ quý, tường gạch chịu nước với 3 chức năng là buôn bán, sinh hoạt và thờ cúng. Giữa nhà chính và nhà phụ có sân trời lát đá, bể nước, non bộ, cây cảnh. Không gian thờ cúng chiếm diện tích nhỏ nhưng quan trọng, thường được đặt ở gác lửng hoặc tầng 2. Ngói lợp nhà làm bằng đất nung, mỏng, thô, bền, có hình vuông dạng cong, mỗi cạnh hơn 2 tấc. Khi lợp, từng hàng sấp ngửa, kiểu âm dương, cố định thêm bằng vữa, tạo nên vẻ thanh tú mà cứng cáp. Khu phố cổ, rộng chừng 2 km2 nhưng có đủ kiến trúc của một thương cảng hưng thịnh xa xưa.
QUẢNG NAM – Phố cổ Hội An - ảnh 2
QUẢNG NAM – Phố cổ Hội An - ảnh 3
QUẢNG NAM – Phố cổ Hội An - ảnh 4
QUẢNG NAM – Phố cổ Hội An - ảnh 5
Phố cổ Hội An (nguồn internet)

Tô Giang (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

Kiến thức http://kienthucdoday.com
Cục di sản văn hóa  http://dch.gov.vn
Người lao động  http://nld.com.vn
Báo Thanh niên  http://www.thanhnien.com.vn 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác