QUẢNG TRỊ - Địa đạo Vịnh Mốc

(Cinet - DL) - Địa đạo Vịnh Mốc là một di tích tiêu biểu của hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Nơi đây từng là pháo đài thép của miền bắc XHCN trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
QUẢNG TRỊ - Địa đạo Vịnh Mốc - ảnh 1
Địa đạo Vịnh Mốc (nguồn internet)
1. Di sản/Di tích: Địa đạo Vịnh Mốc (Di tích làng Hầm).
2. Thời gian: Địa đạo Vịnh Mốc được xây dựng đầu năm 1965 và hoàn thành ngày 18/02/1966.
3. Năm công nhận: Ngày 31.12.2014, Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam ra quyết định số 2408/QĐ-TTg công nhận Địa đạo Vịnh Mốc là di tích cấp Quốc gia đặc biệt.
4. Địa hình/Vị trí: Địa đạo Vịnh Mốc thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, cách quốc lộ 1A 13km về phía đông, cách Cửa Tùng 6km về phía bắc
 Quảng trị là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ.  Phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình. Phía đông giáp biển Đông. Phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế. Phía tây giáp với tỉnh Savanakhet của Lào.
Quảng Trị có địa hình hẹp, dốc nghiêng từ Tây sang Đông. Địa hình đa dạng, chia thành 4 dạng  chính:
- Địa hình có đồi núi cao chiếm  diện tích lớn nhất (chiếm 81%), có độ cao từ 250-2000m, độ dốc 20-300. Địa hình phân cắt mạnh, độ dốc lớn, quá trình xâm thực và rửa trôi mạnh, tập trung ở phía Tây Bắc.
- Địa hình gò đồi và núi thấp có độ cao dưới 900m, tạo nên các dải thoải, lượn sóng, độ phân cắt từ sâu đến trung bình, tập trung ở hai phía tả ngạn và hữu ngạn sông Đa Krông, phía Ðông núi Voi Mẹp.
- Địa hình đồng bằng (chiếm 11,5%) được bồi đắp phù sa từ hệ thống các sông, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30m.
- Địa hình ven biển (chiếm 7,5%) chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển. Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc phân bố dân cư. Một số khu vực có địa hình phân hóa thành các bồn trũng cục bộ dễ bị ngập úng khi có mưa lớn hoặc một số khu vực chỉ là các cồn cát khô hạn.
5. Thổ nhưỡng: Quảng trị có diện tích đất tự nhiên 474.577ha. Đất đai đa dạng, phức tạp, phân bổ từ ven biển đến đồi núi cao, trong đó 79,8% diện tích là đồi núi. Tiềm năng về đất đai của Quảng Trị còn khá lớn với 4.754,73 ha chưa sử dụng.
Đất ở đây chủ yếu chia thành 11 nhóm và 32 loại đất chính (theo tài liệu của FAO và UNESCO) đặc trưng chung gồm 3 nhóm cơ bản:
- Nhóm cồn cát và đất cát ven biển gồm các cồn cát trắng kéo dài từ Vĩnh Linh đến Hải Lăng chiếm 6,23% và đất cát ven biển phân bố rải rác dọc ven biển, chiếm 1,3% đất tự nhiên của tỉnh
- Nhóm đất phù sa do các sông bồi đắp hàng năm chiếm 2% diện tích đất tự nhiên của tỉnh.
- Nhóm đất đỏ vàng (Bazan) phân bố ở vùng núi và gò đồi trung du. Đất bazan có tầng dày tơi xốp, độ mùn thích hợp
Hiện nay, hơn 4.754,73ha chưa sử dụng (chiếm 50%) đa số là đất đồi núi. Tuy nhiên, phần lớn đất này là cồn cát, bãi cát, đất chua mặn, đất đồi núi chia cắt mạnh, mỏng, nghèo dinh dưỡng, nhiều diện tích bị kết von, đá ong phân bố rải rác.
 6. Khí hậu: Quảng Trị nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới tương đối điển hình: gió Tây Nam khô nóng về mùa hạ, gió Đông Bắc ẩm ướt về mùa đông.
- Nhiệt độ: Nền nhiệt tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm từ 240-250C ở vùng đồng bằng, 220-230C ở độ cao trên 500m. Mùa lạnh có 3 tháng (12 và 1, 2 năm sau), nhiệt độ xuống thấp, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 220C ở đồng bằng, dưới 200C ở độ cao trên 500m. Mùa nóng từ tháng 5-8 nhiệt độ cao trung bình 280C, tháng nóng nhất từ tháng 6, 7 nhiệt độ tối đa có thể lên tới 400-420C. Nhiệt độ giữa các tháng trong năm chênh lệch 70-90C.
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.200-2.500mm; số ngày mưa trong năm dao động từ 154-190 ngày. Đồng bằng lượng mưa đạt tới 2.300-2.700mm, miền núi là 1.800-2.000mm. Chế độ mưa ở Quảng Trị biến động rất mạnh theo các mùa và cả các năm. Mùa mưa ít bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 6 hoặc tháng 7. Mưa nhiều tập trung vào các tháng 9, 10, 11 chiếm tới 70 - 80% lượng mưa cả năm.
- Độ ẩm: Quảng Trị có độ ẩm tương đối, trung bình năm khoảng 83-88%. Giữa hai miền Đông và Tây Trường Sơn chế độ ẩm cũng phân hóa theo thời gian. Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 4, độ ẩm thấp nhất có khi xuống đến 22%; trong những tháng mùa mưa, độ ẩm tương đối trung bình thường trên 85%, có khi lên đến 88-90%.
- Nắng: Quảng Trị có số giờ nắng khá cao, trung bình 5-6 giờ/ ngày, có sự phân hóa theo thời gian và không gian rõ rệt: miền Đông có tổng số giờ nắng lên tới 1.910 giờ, miền Tây chỉ đạt 1.840 giờ. Các tháng 5, 6, 7, 8 có số giờ nắng cao đạt trên 200 giờ.
- Gió: Tỉnh chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Đặc biệt gió Tây Nam khô nóng là hiện tượng rất điển hình, thường xuất hiện vào tháng 3-9 và gay gắt nhất tháng 4-5 đến tháng 8, nhiệt độ có thể lên tới 400-420 trung bình mỗi năm có khoảng 45 ngày.
- Bão và áp thấp nhiệt đới: Mùa bão ở Quảng Trị diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11, trong đó tháng 9-10 nhiều bão nhất,  tỷ lệ mưa do bão và áp thấp nhiệt đới ngây ra chiếm tới 40-50% tổng lượng mưa trong các tháng 7-10. Lượng mưa do một cơn bão gây ra khoảng 300–400mm, có khi lên tới 1.000mm
7. Dân cư:  Năm 2010 dân số trung bình của tỉnh là 601672 người. Mật độ dân số là 126,7 người/km2, thuộc loại thấp so với các tỉnh, thành khác trong cả nước.
 - Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ, tập trung đông ở các thành phố, thị xã, các huyện đồng bằng. Dân số thành thị có 170.073 người (chiếm 28,31%). Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm, năm 2007  là 1,05%, năm 2010 là 1,12%; dân số cơ học tăng không đáng kể. Bình quân mỗi năm dân số trung bình toàn tỉnh tăng thêm khoảng 5000 - 6000 người.
  - Dân số phân theo giới tính: nữ chiếm 50,3%, nam chiếm 49,7%; dân số phân theo độ tuổi: từ 0-59 tuổi (chiếm khoảng 90,9%), riêng dân số dưới 15 tuổi (chiếm 37,9%).
8. Tóm tắt nội dung:
Vịnh mốc là một địa đạo lớn nhất trong số 114 địa đạo trên mảnh đất Vĩnh Linh, là một kỳ tích của nhân dân Vĩnh Thạch và lực lượng vũ trang đã nỗ lực đào và vân chuyển hơn 6000m3 đất đá trong 18000 ngày công gian khổ dưới mưa bom, bão đạn.
Địa đạo là hình ảnh thu nhỏ của một làng quê đựợc xây dựng và kiến tạo dưới lòng đất ở độ sâu từ 10-23m, với tổng chiều dài trục chính hơn 2.000m. Hệ thống đường hầm có cấu trúc hình vòm với kích thước 0,9mx1,75m, dài 2.034m, gồm nhiều nhánh nối thông với nhau qua trục chính dài 768m, cao 1,5-1,8m, rộng 1-1,2m. Từ trục chính tỏa ra nhiều nhánh, mỗi nhánh thông với một cửa ra vào.
 Trong lòng địa đạo, hệ thống phòng thủ  gồm ba địa đạo chính: Địa đạo của Đồn biên phòng 140, địa đạo của quân dân Vịnh Mốc, địa đạo của quân dân Sơn Hạ. Ba địa đạo này được nối thông với nhau thành một hệ thống liên hoàn khép kín. Hệ thống đường hầm có tổng chiều dài 1.701m với 13 cửa thông ra ngoài, trong đó có 7 cửa thông ra biển, 6 cửa thông lên đồi, mỗi cửa hầm được coi như một lỗ thông hơi. Tại các cửa hầm được chống đỡ bằng cột gỗ để chống sập và sụt lở, ngụy trang khá kín đáo, tất cả đều đào chếch theo hướng gió, đảm bảo chức năng thông hơi cho đường hầm. Lỗ thông hơi cách trục chính đúng 5m, cách hầm chữ A khoảng 10m và được đào sâu hơn so với đáy địa đạo 0,5m. Hai bên trục đường, cứ khoảng cách từ 3-5m thì khoét lõm sâu vào thành từng ô nhỏ, mỗi ô là một hộ gia đình ăn ở và sinh hoạt, 17 đứa trẻ đã được chào đời ngay trong lòng địa đạo Vịnh Mốc.
QUẢNG TRỊ - Địa đạo Vịnh Mốc - ảnh 2
QUẢNG TRỊ - Địa đạo Vịnh Mốc - ảnh 3
QUẢNG TRỊ - Địa đạo Vịnh Mốc - ảnh 4
QUẢNG TRỊ - Địa đạo Vịnh Mốc - ảnh 5
Địa đạo Vịnh Mốc (nguồn internet)
 
Địa đạo gồm 3 tầng sâu dưới mặt đất từ 10-23m, rộng hơn 7ha có chức năng khác nhau: Tầng 1 cách mặt đất 8-10m là nơi sinh sống của nhân dân. Tầng 2 cách mặt đất  12-15m là nơi đóng trụ sở của Ðảng ủy, UBND và Bộ Chỉ huy quân sự. Tầng 3 có độ sâu hơn 23m, cách mặt nước biển khoảng 3m, dùng làm kho chứa hậu cần, cung cấp lương thực và vũ khí cho đảo Cồn Cỏ và phục vụ chiến đấu cho quân, dân địa đạo Vịnh Mốc. Dọc hai bên trục đường chính cách 4m có 1 căn hộ gia đình, được khoét sâu 1,8m, rộng 0,8m, mỗi căn hộ đủ cho 3-4 người ở. Địa đạo được thiết kế như một làng dưới mặt đất với 94 căn hộ gia đình, có giếng nước ngọt đáp ứng sinh hoạt của người dân. Địa đạo gồm có: hội trường chứa khoảng 60 người, bảng tin, nhà hộ sinh, nhà vệ sinh, phòng phẫu thuật, bếp Hoàng Cầm (loại bếp nấu được dưới lòng đất mà hạn chế khói bốc lên), kho gạo, trạm đặt máy điện thoại, đài quan sát, trạm gác, hầm tránh bom khoan.
Vịnh Mốc không chỉ là địa đầu miền Bắc mà còn là địa điểm thuận lợi cho việc tập kết lương thực, vũ khí tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ, hòn đảo có vị trí quan trọng cho việc án ngữ vùng biển Vĩnh Linh (cách Vịnh Mốc 28km). Chính vì vậy, Mỹ đã trút hàng vạn tấn bom đạn xuống vùng đất này
Địa đạo Vịnh Mốc  là một kỳ tích cho sự tồn tại, sống và chiến đấu vì độc lập, tự do của người dân Vịnh Mốc nói riêng và người dân Việt Nam nói chung dân tộc, một trong những biểu trưng cho tầm cao về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Không những vậy Địa đạo còn là một trong những điểm hấp dẫn, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước, đặc biệt là những cựu chiến binh Mỹ. Hàng ngàn dòng cảm tưởng của khách nước ngoài tỏ ra vô cùng thán phục tài trí, ý chí của người Việt Nam.
Lê Huyền (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

www.vietnamtourism.com/index.php/tourism/items/1272
https://vi.wikipedia.org/wiki/Quảng_Trị
gioithieu.quangtri.gov.vn/index.php?language=vi&nv...dan-so
mobile.coviet.vn/detail.aspx?key=Quảng+Trị&type=A0
vov.vn/du-lich/dia-dao-vinh-moc-huyen-thoai-trong-long-dat-348034.vov
infonet.vn/dia-dao-vinh-moc-ky-tich-tren-dat-lua-post163206.info

 
 
 
 
 
 

                 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác