QUẢNG TRỊ - Khu Lưu niệm Tổng Bí Thư Lê Duẩn

(Cinet-DL)- Khu di tích lưu niệm Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn là một di tích lưu niệm danh nhân của Đảng nằm bên bờ sông Thạch Hãn, thuộc địa phận làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong. Di tích tọa lạc trong khu vực gần chợ Sãi, nơi đây một thời vốn là trung tâm buôn bán tấp nập, nghề tiểu thủ công nghiệp rất phát triển của vùng đồng bằng Triệu Phong. Chính tại ngôi nhà này, đã sinh ra, nuôi dưỡng và hình thành một nhân cách lớn lao của một lãnh tụ cách mạng Việt Nam: Đồng chí Lê Duẩn.
1. Tên di sản/ di tích :
Khu Lưu niệm Tổng Bí Thư Lê Duẩn
2. Thời gian: Năm 1986, đồng chí Lê Duẩn qua đời, toàn Đảng, toàn Dân, lãnh đạo tỉnh Bình Trị Thiên và huyện Triệu Hải cùng với nhân dân địa phương đã tổ chức lễ tang đồng chí ngay trong ngôi nhà tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành – nơi đồng chí Lê Duẩn đã được sinh ra và lớn lên. Từ đó, ngôi nhà này trở thành nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư­ Lê Duẩn.
3. Năm công nhận: Ngày 29/10/2010, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch xếp hạng Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn là di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 3810/QĐ-BVHTTDL.
4. Địa hình/ Vị trí :
- Địa hình:
Địa hình đa dạng bao gồm núi, đồi, đồng bằng, cồn cát và bãi biển chạy theo hướng tây bắc - đông nam. Quảng Trị có nhiều sông ngòi với 7 hệ thống sông chính là sông Thạch Hãn, sông Bến Hải, sông Hiếu, sông Ô Lâu, sông Bến Đá, sông Xê Pôn và sông Sê Păng Hiêng.
Nhìn đại thể, địa hình núi, đồi và đồng bằng Quảng Trị chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam và trùng với phương của đường bờ biển. Sự trùng hợp này được thấy rõ trên đường phân thủy giữa Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây. Xem xét địa hình ở quy mô nhỏ hơn, từng dãy núi, từng dải đồi thì địa hình lại có hướng song song với các thung lũng sông lớn như Cam Lộ, Thạch Hãn, Bến Hải...
Tính phân bậc của địa hình từ tây sang đông thể hiện khá rõ ràng. Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây sang Đông, Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc tỉnh; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển.
+ Địa hình núi cao: Phân bố ở phía Tây từ dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp, chiếm diện tích lớn nhất, có độ cao từ 250-2000 m, độ dốc 20-300. Địa hình phân cắt mạnh, độ dốc lớn, quá trình xâm thực và rửa trôi mạnh.
+ Địa hình gò đồi, núi thấp: Là phần chuyển tiếp từ địa hình núi cao đến địa hình đồng bằng, chạy dài dọc theo tỉnh. Có độ cao từ 50-250m, một vài nơi có độ cao trên 500 m. Địa hình gò đồi, núi thấp (vùng gò đồi trung du) tạo nên các dải thoải, lượn sóng, độ phân cắt từ sâu đến trung bình.
+ Địa hình đồng bằng: Là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thống các sông, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30 m.
+ Địa hình ven biển: Chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển. Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc phân bố dân cư.
- Vị trí:
Nằm bên bờ sông Thạch Hãn, thuộc địa phận làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong; cách quốc lộ 1A tại thị xã Quảng Trị khoảng 3km về phía Đông Bắc (đi theo tỉnh lộ 64), di tích Khu lưu niệm Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn tọa lạc trong khu vực gần chợ Sãi, nơi đây một thời vốn là trung tâm buôn bán tấp nập, nghề tiểu thủ công nghiệp rất phát triển của vùng đồng bằng Triệu Phong.
5. Thổ nhưỡng:
Theo số liệu thống kê tỉnh Quảng Trị năm 2008, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh có 474.699,11 ha. Các loại đất chia theo mục đích sử dụng bao gồm:
- Đất nông nghiệp: Có diện tích là 301.993,75 ha, chiếm 63,62% tổng diện tích đất tự nhiên. Bình quân đất nông nghiệp/người là 4.770 m2.
- Đất phi nông nghiệp: Diện tích có 41.421,31 ha, chiếm 8,73% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, đất nghĩa trang, nghĩa địa chiếm diện tích 3.921,34 ha; đất sông suối và mặt nước chuyên dung nắm giữ phần diện tích 15.052,29 ha.
- Đất chưa sử dụng: là phần diện tích còn lại với 131.284,05 ha, chiếm 27,66% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó: đất đồi núi chưa sử dụng là 117.782,15 ha. Đây là tiềm năng lớn cho phép khai hoang mở rộng quy mô phát triển nông, lâm nghiệp và đưa vào sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Diện tích núi đá không có rừng cây: 776,65 ha.
Tuy diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều nhưng phần lớn là đất cồn cát, đất chua mặn, đất đồi núi chia cắt mạnh, có tầng dày mỏng, nhiều diện tích bị kết vón đá ong, phân bố rải rác, không tập trung và có những vùng còn bom mìn chưa được rà phá. Do đó để cải tạo, khai thác đưa vào sử dụng được trong các ngành kinh tế cần có đầu tư vốn lớn và kỹ thuật, thuỷ lợi, rà phá bom mìn...
6. Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào, tổng tích ôn cao... là những thuận lợi cơ bản cho phát triển các loại cây trồng nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, nơi đây lại được coi là vùng có khí hậu khá khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh từ tháng 3 đến tháng 9 thường gây nên hạn hán. Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa nên dễ gây nên lũ lụt.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 24-25 oC ở vùng đồng bằng, 22-23 oC ở độ cao trên 500 m. Mùa lạnh có 3 tháng (12 và 1, 2), nhiệt độ xuống thấp, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 22 oC ở đồng bằng, dưới 20 oC ở độ cao trên 500 m. Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ cao trung bình 28 oC, tháng nóng nhất từ tháng 6, 7, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 40- 42 oC. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm chênh lệch 7- 9 oC.
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.200-2.500 mm; số ngày mưa trong năm dao động từ 154-190 ngày. Chế độ mưa ở Quảng Trị biến động rất mạnh theo các mùa và cả các năm. Trên 70% lượng mưa tập trung vào các tháng 9, 10, 11. Mùa khô thường từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau, khô nhất vào tháng 7, đây là thời kỳ có gió Tây Nam thịnh hành. Mùa mưa, lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn thường gây nên lũ lụt; mùa hè, thời gian mưa ít kéo dài thường gây nên thiếu nước, khô hạn.
- Độ ẩm: độ ẩm tương đối, trung bình năm khoảng 83-88%. Giữa hai miền Đông và Tây Trường Sơn chế độ ẩm cũng phân hóa theo thời gian. Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 4, độ ẩm thấp nhất có khi xuống đến 22%; trong những tháng mùa mưa, độ ẩm tương đối trung bình thường trên 85%, có khi lên đến 88-90%.
- Nắng: số giờ nắng khá cao, trung bình 5-6 giờ/ngày, có sự phân hóa theo thời gian và không gian rõ rệt: miền Đông có tổng số giờ nắng lên tới 1.910 giờ, miền Tây chỉ đạt 1.840 giờ. Các tháng có số giờ nắng cao thường vào tháng 5, 6, 7, 8, đạt trên 200 giờ.
-  Gió: chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Đặc biệt gió Tây Nam khô nóng ở Quảng Trị là hiện tượng rất điển hình, được đánh giá là dữ dội nhất ở nước ta. Trung bình mỗi năm có khoảng 45 ngày. Trong các đợt gió Tây Nam khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới 40 – 42 oC.
- Bão và áp thấp nhiệt đới: Nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của bão. Mùa bão thường tập trung vào các tháng 9 và 10. Bão có cường suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ quét ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư.
Nhìn chung điều kiện tự nhiên của Quảng Trị có những thuận lợi khá cơ bản: do sự phân hóa đa dạng của độ cao địa hình tạo nên các vùng tiểu khí hậu thích hợp cho sự phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với các loại cây trồng vật nuôi có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt và cận ôn đới, có giá trị kinh tế cao. Điều này mang lại lợi thế cạnh tranh trong phát triển nông nghiệp hàng hóa. Tiểu vùng khí hậu đỉnh Trường Sơn với tính ôn hoà là tài nguyên quý mang lại sức hấp dẫn cho sự phát triển các hoạt động dịch vụ, du lịch, tạo không gian mát mẻ cho tham quan, nghỉ dưỡng, đặc biệt là trong mùa hè nóng gay gắt của vùng Bắc Trung Bộ. Đây là điểm độc đáo của khí hậu Quảng Trị.
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi cơ bản, điều kiện khí hậu, thời tiết của Quảng Trị cũng như ở các tỉnh miền Trung mang tính chất khắc nghiệt: thường xảy ra hạn hán về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa. Do đó việc khắc phục thiên tai, xây dựng các công trình thuỷ lợi, trồng rừng đầu nguồn để giữ nước chống lũ lụt nhằm ổn định sản xuất và đời sống có ý nghĩa to lớn cần được quan tâm.
7. Dân cư:
Năm 2010 dân số trung bình của tỉnh là 601.672 người. Toàn tỉnh có 136.743 hộ gia đình, bình quân 4,4 nhân khẩu/hộ. Dân số thành thị có 170.073 người, chiếm 28,31%. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,05% năm 2007 và 1,12%  năm 2010; dân số cơ học tăng không đáng kể. Bình quân mỗi năm dân số trung bình toàn tỉnh tăng thêm khoảng 5.000-6.000 người.
- Trong cơ cấu dân số phân theo giới tính, nữ chiếm 50,3%, nam chiếm 49,7%; phân theo độ tuổi, từ 0-59 tuổi chiếm khoảng 90,9%, chỉ tiêu này cho thấy đây là cơ cấu dân số trẻ, riêng dân số dưới 15 tuổi chiếm 37,9%, đây là lực lượng lao động dự trữ dồi dào của tỉnh.
- Mật độ dân số toàn tỉnh là 126,7 người/km2,thuộc loại thấp so với các tỉnh, thành khác trong cả nước. Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ, tập trung đông ở các thành phố, thị xã, các huyện đồng bằng.
Cộng đồng các dân tộc tỉnh Quảng Trị gồm 3 dân tộc chính: Kinh, Vân Kiều và Pa Cô. Tỉ lệ các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 9% tổng dân số.
8. Tóm tắt nội dung
Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư – Lê Duẩn là nơi biểu hiện lòng kính cẩn biết ơn của nhân dân ta đối với thân thế và sự nghiệp của đồng chí Lê Duẩn.
- Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư­ Lê Duẩn là khu nhà và vườn của cụ thân sinh Lê Hiệp trước đây, nằm trên khuôn viên có diện tích 400m2.
+ Nhà làm bằng gỗ, nhưng lại khá khang trang. Ngôi nhà đã bị đốt cháy nhiều lần, chỉ còn trơ lại nền và khu vườn hoang vắng sau khi trải qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc của dân tộc.
- Khi đất  nước hoà bình thống nhất (1976), các ngành các cấp huyện Triệu Hải (cũ) cùng bà con quê hương đã xây dựng nên một ngôi nhà để vừa làm nhà lưu niệm, thờ cúng gia tộc vừa làm nơi nghỉ ngơi cho đồng chí Lê Duẩn mỗi lần về thăm quê.
+ Ngôi nhà được khởi công xây dựng vào tháng 2/1976 và hoàn thành vào cuối năm đó. Lúc đầu chỉ là ngôi nhà lợp tranh, xung quanh che chắn bằng gỗ ván. Tuy nhiên đến cuối năm 1977, mái tranh bị hư hỏng nặng do sự tác động của nắng mưa, gió bão nên UBND tỉnh Bình Trị Thiên lúc bấy giờ đã cho lợp lại bằng ngói.
- Từ đó đến năm 1994, ngôi nhà vẫn giữ nguyên hiện trạng.
+ Nhà dài 9 mét, rộng 4,5 mét, kết cấu theo dạng nhà ba gian hai chái. Bao quanh nhà là 4 hàng rào chè tàu được cắt tỉa cẩn thận, phía sau khuôn viên trồng các loại cây cảnh và cây ăn  trái, ừ dãy hàng rào phía trước ra 57 mét là bờ sông Thạch Hãn có hệ thống kè chống xói lở, phía bên là đường liên thôn, cuối đường là bến nước Hậu Kiên
+ Hiện nay, Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn là một quần thể di tích nằm trên một khuôn viên có diện tích 2.000 m2 bao gồm: Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Lê Duẩn - nơi sinh hoạt của gia đình đồng chí từ khi chuyển từ Bích La Đông lên Hậu Kiên và hiện nay là nơi thờ tự hai cụ thân sinh và đồng chí tại quê hương. Ngoài Nhà Lưu niệm còn có Nhà trưng bày là nơi trưng bày những hiện vật, tư liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp đồng chí Lê Duẩn và Nhà tưởng niệm là nơi tổ chức lễ viếng thăm của khách hành hương và khách tham quan cùng một số công trình phụ trợ khác.
Nhà lưu niệm Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn được coi là di tích lịch sử cách mạng quý giá trong toàn bộ hệ thống di tích lịch sử, văn hóa ở Quảng Trị.
- Nhà lưu niệm là nơi đã diễn ra những cuộc gặp gỡ ấm cúng, gần gũi, thân thiết tình cảm giữa đồng chí và nhân dân, Đảng bộ địa phương trong khoảng thời gian Đồng chí là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và đã nhiều lần về thăm quê nhà vào các năm 1978, 1981, 1983, 1985.
- Khu di tích lưu niệm Tổng bí thư Lê Duẩn là một di tích lịch sử lưu niệm danh nhân tiêu biểu của Tỉnh Quảng Trị, gắn liền tuổi trẻ và những năm tháng hoạt động cách mạng của đồng chí ở quê nhà với sự tồn tại và phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
- Khu lưu niệm là nơi giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và là một trong những địa chỉ đỏ về hoạt động giáo dục truyền thống, sinh hoạt văn hóa cho các thế hệ không chỉ riêng đối với Quảng Trị mà còn đối với cả nước.
Các công trình trong khu di tích lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn:
+ Nhà nghiệp của đồng chí Lê Duẩn” với nhiều tài liệu, hình ảnh, hiện vật gốc phong phú, tiêu biểu đã giúp cho những người đến thăm khu di tích hiểu rõ hơn về cuộc lưu niệm.
+ Nhà tưởng niệm, Nhà trưng bày lưu niệm về “Thân thế, cuộc đời và sự đời, sự nghiệp và nhân cách của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Đặc biệt là những đóng góp to lớn của đồng chí cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.
QUẢNG TRỊ - Khu Lưu niệm Tổng Bí Thư Lê Duẩn - ảnh 1
Khu nhà vườn của cụ thân sinh Cổ Tổng Bí thư Lê Duẩn
QUẢNG TRỊ - Khu Lưu niệm Tổng Bí Thư Lê Duẩn - ảnh 2
QUẢNG TRỊ - Khu Lưu niệm Tổng Bí Thư Lê Duẩn - ảnh 3
QUẢNG TRỊ - Khu Lưu niệm Tổng Bí Thư Lê Duẩn - ảnh 4
 
QUẢNG TRỊ - Khu Lưu niệm Tổng Bí Thư Lê Duẩn - ảnh 5
Đoàn lãnh đạo Tỉnh Quảng Trị viết sổ lưu niệm tại Khu di tích
Ngọc Anh ( Tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
 www.quangtri.gov.vn;  www.quangtri360.com;  www.vista.net.vn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác