SƠN LA – Hang Dơi

SƠN LA – Hang Dơi - ảnh 1
(Cinet-DL)- Hang Dơi hay còn gọi là Động Sơn Mộc Hương, cái tên đã trở nên quen thuộc từ lâu với nhiều du khách. Di tích danh lam thắng cảnh này được ví như một tác phẩm nghệ thuật, một thắng cảnh mà thiên nhiên ban tặng cho cao nguyên Mộc Châu.
1. Tên di sản/di tích
Hang Dơi
Động Sơn Mộc Hương.
2. Thời gian
Di tích Hang Dơi được phát hiện từ năm 1952, là một hang đá tự nhiên, tại đây không chỉ tồn tại những di tích có cảnh đẹp của thiên tạo, mà còn có dấu vết của người Việt Cổ. Cuộc khảo sát của Viện khảo cổ học tháng 9/1992, đã thu được kết quả về hiện vật khảo cổ học gồm: Mảnh tước, Rìu mài lưỡi, Bi đá, mảnh gốm tại di tích này.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp trung đoàn 174 của sư đoàn 316 đã trú quân tại đây để tăng cường cho chiến dịch Tây Bắc năm 1952 và giải phóng Điện Biên Phủ.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ từ năm 1965 đến năm 1975 sư đoàn 335 đã cất giấu vũ khí và trú quân tại đây để tăng cường cho mặt trận phía Bắc Lào.
3. Năm công nhận
Ngày 24/1/1998, Bộ VH-TT và DL công nhận Hang Dơi là Di tích danh lam thắng cảnh cấp Quốc gia.
4. Địa hình/ Vị trí
- Địa hình:
Sơn La có độ cao trung bình 600 – 700 m so với mực nước biển. Địa hình của Sơn La bị chia cắt và tạo thành ba vùng sinh thái : Vùng trục quốc lộ 6, vùng lòng hồ sông Đà và vùng cao biên giới. Riêng hai cao nguyên lớn Mộc Châu và Nà Sản với độ cao hàng trăm mét đã tạo nên nét đặc trưng cho địa hình Sơn La. Trong đó:
+ Cao nguyên Mộc Châu: Cao 1.050 m so với mực nước biển, mang đặc trưng của vùng khí hậu cận ôn đới có nhiệt độ trung bình hàng năm là 180C. Đất đai phì nhiêu, phù hợp với trồng cây công nghiệp như chè, cây ăn quả, chăn nuôi bò sữa, các loại gia súc ăn cỏ và phát triển du lịch.
+ Cao nguyên Nà Sản: Cao 800 m so với mực nước biển, đất đai phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp như mía, cà phê, dâu tằm và cây ăn quả.
- Vị trí:
Hang Dơi nằm về phía Đông - Bắc của thị trấn Mộc Châu, có diện tích 6.915 m2 . Từ Hà Nội lên Sơn La theo quốc lộ 6, di tích nằm ngay trung tâm thị trấn Mộc Châu, ở dãy núi phía tay phải cạnh đường quốc lộ 6. Từ quốc lộ 6 lên đến hang phải leo 240 bậc đá.
5. Thổ nhưỡng
Sơn La có diện tích tự nhiên đứng thứ 5/64 tỉnh, thành phố. Trong đó, diện tích đất đang sử dụng chiếm 39,08%. Đất đai màu mỡ, tầng canh tác dày với nhiều loại thổ nhưỡng cho phép phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối chiếm 60,92. Quỹ đất nông nghiệp rất hạn chế, diện tích bình quân đạt 0,2 ha/người.
Quỹ đất để phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, cây ăn quả có diện tích 23.520. Quỹ đất để phát triển đồng cỏ phục vụ chăn nuôi có diện tích 1.167 ha.
Số liệu thống kê đất đai (2009): 
Tổng diện tích :  1.417.444 ha
Trong đó, đất nông nghiệp là 823.216 ha; đất phi nông nghiệp là 48.233 ha (đất sông, suối và mặt nước chuyên dung chiếm diện tích lớn nhất với 20.747 ha); đất chưa sử dụng là 702.740 ha (bao gồm: đất đồi núi và núi đá không có rừng cây).
6. Khí hậu
Khí hậu Sơn La chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9
- Khí hậu Sơn La chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa  hè từ tháng 4 đến tháng 9.
- Nhiệt độ trung bình năm 21,4 độC (nhiệt độ trung bình cao nhất là 27 độ C, thấp nhất trung bình là 16 độ C).
- Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 - 1.600mm.
- Độ ẩm không khí trung bình là 81%.
7. Dân cư
Dân số ở Sơn La tính đến năm 2012 là khoảng 1.134.300 người. Mật độ dân số Sơn La tính đến thời điểm năm 2012 là 80 người/km2.
Trải qua quá trình lịch sử lâu dài từ thời kỳ đồ đá cũ đến nay, theo kết quả điều tra dân số tính đến thời điểm năm 2002, tỉnh Sơn La có 12 dân tộc anh em chung sống, trong đó người Thái chiếm 54% số dân toàn tỉnh, đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng thật sự đã và đang giữ vị trí trung tâm đoàn kết các thành phần dân tộc khác, tập trung đông nhất ở Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Mường La (70%). Tiếp đến là người Kinh (18%), người Mông (12%), người Mường (8,4%), người Dao (2,5%), người Khơ Mú, người Xinh Mun và 5 dân tộc khác là Kháng, La Ha, Lào, Tày, Hoa sống rải rác trên khắp lãnh thổ của tỉnh.
8.Tóm tắt nội dung
Hang Dơi là một di tích có giá trị về danh lam thắng cảnh, phản ánh cái đẹp của thiên tạo, gắn liền với lịch sử giữ nước của dân tộc.
- Với diện tích 6.915m2, Hang Dơi xưa được người Thái gọi là hang Sa lai (Hang Nước) vì trong lòng núi có mạch nước ngầm lớn trong xanh mát lạnh chảy quanh năm không bao giờ cạn, là nguồn nước cho bà con thị trấn Mộc Châu.
+ Cửa hang có hình thù như miệng một con rồng khổng lồ, men theo lối đi hai bên tựa như hai mép rồng, ở giữa là một hòn đá nhô ra như lưỡi rồng, trần hang cao như hàm rồng, nền bằng phẳng, rộng và thoáng.
+ Vào sâu trong hang, có những dải thạch nhũ lấp lánh nhiều màu sắc, nhiều nhũ đá mang hình dáng ông tiên, cô tiên; hình loài vật (voi, sư tử, hổ, báo, đại bàng); hình người con gái ngồi quay sợi, dệt vải; hình đụn thóc; cây đồng tiền; mâm ngũ quả; mẹ bồng con và những dãy măng đá cao vút.
- Theo kiến tạo địa lý vùng đá vôi catxtơ, trải qua hàng nghìn năm, quá trình xâm thực đã tạo nên hang gồm ba ngăn động lớn rộng và đẹp.
+ Ngăn thứ nhất có diện tích khoảng hơn 100 m2, ở giữa có một hòn đá lớn tự nhiên nhô ra như lưỡi Rồng, có lối vào hai bên tựa như hai mép Rồng. Ở phía tay trái, ngay cửa ra vào là một cột đá được trạm trổ công phu đứng sừng sững, vững trãi cao tới gần 20m như được thiết kế để nâng lấy trần hang, hé mở một khoảng lộ thiên vừa đủ.
+ Ngăn thứ hai nổi bật bởi những khối đá măng màu trắng ngà mọc san sát nhau như bức thành vững trãi. Hình ảnh chú cá mập, những đàn cá nhỏ, cả những con sứa biển như đang bơi lội dưới biển cả mênh mông, thấp thoáng gần xa ẩn hiện những núi đảo lô nhô trập trùng trên sóng nước.
Bên cạnh những con vật linh thiêng, ở đây còn có hình ảnh của đôi trai gái đang hò hẹn bên bến nước tình yêu (Hồ nước cạn). Hồ rộng khoảng 300 m2, ở giữa hồ một con rùa đá nổi lên như đang mắc cạn. Hồ nước này còn gắn với một câu chuyện cổ tích ly kỳ về tình yêu của một hoàng tử khôi ngô tuấn tú con trai của Vua Thủy tề          
+ Ngăn thứ ba có diện tích nhỏ nhất chỉ khoảng 80 m2, trần hang cao độ 10 m. Không gian nhỏ và tối hơn. Ở đây xuất hiện khối măng đá lớn giống như ''Vú tiên'' gắn với truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân.
Di tích Hang Dơi "Tây thiên đệ nhất động" tồn tại sự cư trú của người tiền sử trong hậu kỳ đá mới, thuộc nền văn hoá hoà bình.
Vào tháng 9/1992, trong cuộc khảo sát có sự kết hợp của Bảo tàng Sơn La với Viện Khảo cổ học Việt Nam, tại khoảng đất rộng 1,2m2, trước cửa hang, hố thám sát đã phát hiện có tầng văn hoá dày 0,5m, hiện vật thu gồm mảnh tước, rìu mài lưỡi, bi đá, mảnh gốm… Là dấu hiệu cho thấy tại đây đã có người Việt cổ sinh sống cách nay khoảng 3000 - 3500 năm.
SƠN LA – Hang Dơi - ảnh 2
Đường vào Hang Dơi
SƠN LA – Hang Dơi - ảnh 3
SƠN LA – Hang Dơi - ảnh 4
SƠN LA – Hang Dơi - ảnh 5
SƠN LA – Hang Dơi - ảnh 6
Nhũ đá trong Hang Dơi

Ngọc Anh ( Tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo :

www.vietnamtourism.com; www.sonla.gov; www.thuviensonla.com.vn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác