SƠN LA – Nhà tù Sơn La

SƠN LA – Nhà tù Sơn La - ảnh 1
Nhà tù Sơn La
(Cinet-DL)- Nhà tù Sơn La do Thực dân Pháp xây dựng năm 1908 với mục đích giam cầm, đầy ải và thủ tiêu ý chí đấu tranh của những người Cộng sản Việt Nam. Nhưng cũng chính tại nơi đây, khí tiết của những người chiến sỹ cộng sản đã toả sáng và thắp lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng khắp núi rừng Tây Bắc.
1. Tên di sản/di tích
Nhà tù Sơn La
Nhà ngục Sơn La
2. Thời gian
Nhà ngục Sơn La được thực dân Pháp xây dựng năm 1908. Từ một nhà tù nhỏ cấp tỉnh, đến giữa những năm 1930 -1945 nhà tù được xây dựng và mở rộng làm nơi giam giữ những tù nhân chính trị cách mạng.
3. Năm công nhận
- Ngày 28/4/1962, Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận Nhà tù Sơn La là di tích Quốc gia theo Quyết định số 313-VH/VP.
- Ngày 31/12/2014, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Nhà tù Sơn La là di tích quốc gia đặc biệt đợt 5 theo Quyết định số Quyết định số 2408/QĐ-TTg.
4. Địa hình/ Vị trí
- Địa hình:
Sơn La có độ cao trung bình 600 – 700 m so với mực nước biển. Địa hình của Sơn La bị chia cắt và tạo thành ba vùng sinh thái : Vùng trục quốc lộ 6, vùng lòng hồ sông Đà và vùng cao biên giới. Riêng hai cao nguyên lớn Mộc Châu và Nà Sản với độ cao hàng trăm mét đã tạo nên nét đặc trưng cho địa hình Sơn La. Trong đó:+ Cao nguyên Mộc Châu: Cao 1.050 m so với mực nước biển, mang đặc trưng của vùng khí hậu cận ôn đới có nhiệt độ trung bình hàng năm là 180C. Đất đai phì nhiêu, phù hợp với trồng cây công nghiệp như chè, cây ăn quả, chăn nuôi bò sữa, các loại gia súc ăn cỏ và phát triển du lịch.
+ Cao nguyên Nà Sản: Cao 800 m so với mực nước biển, đất đai phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp như mía, cà phê, dâu tằm và cây ăn quả.
- Vị trí:
Nhà tù Sơn La được xây dựng trên đỉnh đồi Khau Cả, nay thuộc Tổ 8, Phường Tô Hiệu, Thành phố Sơn La.
Nhà tù Sơn La phía Đông giáp trụ sở làm việc của UBND tỉnh Sơn La cách khoảng 100m. Phía Tây nhìn về khu đồi khí tượng có con đường quốc lộ 6 đi thẳng Lai Châu cách con đường này khoảng 200m, phía Nam nhìn ra trung tâm thị xã cách đường Tô Hiệu khoảng 400m, phía Bắc nhìn về phía trụ sở của tỉnh Đảng bộ Sơn La, cách đường Quốc lộ 6 (đi xuôi về Hà Nội) khoảng 500m.
5. Thổ nhưỡng
Sơn La có diện tích tự nhiên đứng thứ 5/64 tỉnh, thành phố. Trong đó, diện tích đất đang sử dụng chiếm 39,08%. Đất đai màu mỡ, tầng canh tác dày với nhiều loại thổ nhưỡng cho phép phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối chiếm 60,92. Quỹ đất nông nghiệp rất hạn chế, diện tích bình quân đạt 0,2 ha/người.
Quỹ đất để phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, cây ăn quả có diện tích 23.520. Quỹ đất để phát triển đồng cỏ phục vụ chăn nuôi có diện tích 1.167 ha.
Số liệu thống kê đất đai (2009):
Tổng diện tích :  1.417.444 ha
Trong đó, đất nông nghiệp là 823.216 ha; đất phi nông nghiệp là 48.233 ha (đất sông, suối và mặt nước chuyên dung chiếm diện tích lớn nhất với 20.747 ha); đất chưa sử dụng là 702.740 ha (bao gồm: đất đồi núi và núi đá không có rừng cây).
6. Khí hậu
Khí hậu Sơn La chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9
- Khí hậu Sơn La chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa  hè từ tháng 4 đến tháng 9.
- Nhiệt độ trung bình năm 21,4 độC (nhiệt độ trung bình cao nhất là 27 độ C, thấp nhất trung bình là 16 độ C).
- Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 - 1.600mm.
- Độ ẩm không khí trung bình là 81%.
7. Dân cư
Dân số ở Sơn La tính đến năm 2012 là khoảng 1.134.300 người. Mật độ dân số Sơn La tính đến thời điểm năm 2012 là 80 người/km2.
Trải qua quá trình lịch sử lâu dài từ thời kỳ đồ đá cũ đến nay, theo kết quả điều tra dân số tính đến thời điểm năm 2002, tỉnh Sơn La có 12 dân tộc anh em chung sống, trong đó người Thái chiếm 54% số dân toàn tỉnh, đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng thật sự đã và đang giữ vị trí trung tâm đoàn kết các thành phần dân tộc khác, tập trung đông nhất ở Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Mường La (70%). Tiếp đến là người Kinh (18%), người Mông (12%), người Mường (8,4%), người Dao (2,5%), người Khơ Mú, người Xinh Mun và 5 dân tộc khác là Kháng, La Ha, Lào, Tày, Hoa sống rải rác trên khắp lãnh thổ của tỉnh.
8.Tóm tắt nội dung
Nhà tù Sơn La nổi tiếng trong các nhà tù của thực dân Pháp là địa ngục trần gian, nơi bẻ gãy ý chí chiến đấu của những người cộng sản.
- Nhà tù Sơn La do thực dân Pháp xây dựng trên ngọn đồi Khau Cả nằm bên dòng suối Nậm La thuộc tỉnh Sơn La, gần như có sự tách biệt với cuộc sống bên ngoài.
+ Diện tích ban đầu là 500 m2, nhà tù Sơn La được xây dựng kiên cố bằng đá lẫn gạch, hệ thống giường nằm cho tù nhân được mặt láng xi măng, mép ngoài gắn hệ thống cùm chân dọc theo chiều dài của sàn.
+ Vào mùa hè, các phòng giam nơi đây giống như một cái lò nung bởi gió Lào tràn về, còn mùa đông, lại biến thành một ngăn tủ lạnh vì khí hậu giá rét nơi miền biên ải.
+ Hiện nay, nhà tù vẫn còn để nguyên trạng các xà lim ngầm, xà lim chéo, trại hai giam, trại ba giam cùng những phòng giam đặc biệt chỉ rộng 1,2m2, nơi từng giam hãm những người cách mạng.
+ Nhà tù Sơn La còn lưu giữ hàng trăm hiện vật, những công cụ tra tấn - những chứng tích sống về tội ác dã man của kẻ thù như còng tay, xích sắt, bàn kẹp sắc nhọn...
+ Ngoài ra, cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản kiên trung Tô Hiệu xanh tốt nằm bên tường xà lim năm xưa là minh chứng cho tinh thần đấu tranh kiên cường.
- Nhà tù được biến thành trường học cách mạng, là nơi ươm những hạt giống đỏ để phong trào cách mạng ở Tây Bắc đơm hoa, kết trái sau này.
+ Được xem là địa ngục trần gian tại vùng Tây Bắc, nhà tù Sơn La được thực dân Pháp xây dựng một mặt với mục đích tách rời mối quan hệ giữa tù chính trị với nhân dân. Mặt khác, chúng lợi dụng khí hậu khắc nghiệt, cùng chế độ nhà tù đầy hà khắc dễ gây ra bệnh tật hiểm nghèo để giết dần, giết mòn các chiến sĩ cộng sản, những người Việt Nam yêu nước.
+ Nơi đây từng giam giữ gần 1.007 lượt tù nhân cộng sản, trong đó có nhiều đồng chí là Thành ủy, Xứ ủy, Trung ương ủy viên như: Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng. Đặc biệt, nhà tù Sơn La chính là nơi yên nghỉ của đồng chí Tô Hiệu, người lãnh tụ kiên cường và bất khuất của cách mạng Việt Nam trong thời gian bị giam cầm ở đây.
+ Đối với cách mạng Việt Nam thì Nhà tù Sơn La lại là trường học đấu tranh cách mạng, nơi rèn dũa, đào tạo và cung cấp cho phong trào cách mạng những người cộng sản ưu tú.
Người Đảng viên Cộng sản luôn kiên định đấu tranh bảo tồn lực lượng, bảo vệ khí tiết cách mạng của Đảng, tổ chức cuộc sống, học tập lý luận và tuyên truyền cách mạng, giác ngộ quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng trong và ngoài nhà tù.
- Các cuộc đấu tranh trong Nhà tù Sơn La
+ Nhiều đoàn tù chính trị  bị đày lên Sơn La
  • Trong giai đoạn năm 1930 - 1932, các đoàn tù chính trị gồm 50 người bị kết án khổ sai 5 năm đày lên Sơn La,
  • Tháng 2/1933, đoàn tù thứ 4 gồm 210 người, đây là đoàn tù đông nhất bị đày lên Sơn La. Trong đoàn tù này có các đồng chí: Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Lan, Đỗ Ngọc Du, Khuất Duy Tiến, Trường Chinh, Lê Duẩn mà Thực dân pháp đã xếp vào "những phần tử nguy hiểm"
  • Tháng 10/1934 đến tháng 5/1935, thực dân Pháp tiếp tục đày các đoàn tù lên Sơn La, trong những đoàn tù này có các đ/c Nguyễn Lương Bằng, Đặng Việt Châu, Phạm Quang Lịch… Có nhiều đ/c bị đày lên Sơn La lần thứ hai như đ/c Trường Chinh, Bùi Vũ Trụ, Hoàng Đình Dong.
+ Tháng 10/1933, nhiều cuộc đấu tranh liên tiếp của những người tù Cộng sản ở Nhà tù Sơn La nổ ra
  • Tiêu biểu nhất vẫn là cuộc đấu tranh "Chống tên toàn quyền Đông Dương PátSkiê".
  • Cuộc đấu tranh tuyệt thực chống tên giám ngục Ga-Bô-Ri nổ ra vào tháng 6 năm 1940. Từ thắng lợi của các cuộc đấu tranh, vai trò lãnh đạo của chi bộ Đảng trở thành tất yếu và khẳng định rằng nhà tù Đế Quốc không chỉ là trường học cách mạng, mà còn là trường đời, là nơi rèn luyện đấu tranh giai cấp, là học viện của chủ nghĩa Mác - lê nin.
  • Cuộc đấu tranh kiên quyết và khôn khéo chống Cút Xô. Được xem là cuộc đấu tranh lớn nhất trong nhà tù Sơn La, nổ ra vào ngày 13/5/1941, cuộc đấu tranh này do chi ủy quyết định. Ban lãnh đạo cuộc đấu tranh được thành lập gồm các đồng chí: Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Xuân Thủy, Lê Đức Thọ, Tô Hiệu. Đồng chí Tô Hiệu góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh này mặc dù ông bệnh tật ho lao nặng, đ/c Tô Hiệu bị giam cách ly ở xà lim tam giác chéo.
Cuộc đấu tranh kéo dài 13 ngày đêm của những người tù chính trị phạm ở Sơn La đã kết thúc. Từ đây đã mở ra thời kỳ mới, hoạt động sôi nổi, thắng lợi liên tiếp trên mặt trận chính trị - kinh tế - văn hóa - quân sự - tuyên truyền giác ngộ binh lính, quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng đầu tiên ở nước ta.
- Chi bộ nhà tù Sơn La với cách mạng tháng 8 -1945 ở Sơn La
+ Hội người Thái cứu quốc ở Sơn La là một hình thức tổ chức quần chúng, là một hình thức tổ chức mặt trận Việt Minh, có nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, vạch trần tội ác của Nhật, kêu gọi đồng bào đoàn kết.
+ Ngày 26 - 8 -1945 dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự Tỉnh bộ Việt Minh do đồng chí Chu Văn Thịnh làm chủ tịch. Cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi.
+ Chi bộ Nhà tù Sơn La là vườn ươm hạt giống cách mạng, nơi tỏa sáng của Đảng tới nhân dân các dân tộc Sơn La.
SƠN LA – Nhà tù Sơn La - ảnh 2
SƠN LA – Nhà tù Sơn La - ảnh 3
SƠN LA – Nhà tù Sơn La - ảnh 4
SƠN LA – Nhà tù Sơn La - ảnh 5
SƠN LA – Nhà tù Sơn La - ảnh 6
Quang cảnh trong nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu

Ngọc Anh ( Tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
 www.vietnamtourism.com; www.sonla.gov; www.thuviensonla.com.vn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác