THÁI BÌNH – Chùa Keo

(Cinet - DL) - Chùa Keo là một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn đến ngày nay, hiện nằm trên địa bàn xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
1. Di tích/Di sản: Chùa Keo
2. Thời gian: Căn cứ vào văn bia chùa Keo thì chùa được xây dựng cách đây 383 năm (1632) do một vị quan lớn thời Lê - Trịnh (thế kỷ XVII) đứng ra khởi công xây dựng lại. Song nguồn gốc xa xưa là từ một ngôi chùa tên Nghiêm Quang tự, tương truyền, nguyên thủy chùa do Thiền Sư Không Lộ dựng ở ven sông Hồng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông, tại hương Giao Thủy, phủ Hà Thanh (nay thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định). Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang Tự, đến năm 1167 mới đổi thành Thần Quang Tự. Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi là chùa Keo. 
THÁI BÌNH – Chùa Keo - ảnh 1
Gác chuông chùa Keo (nguồn internet)
Sau gần 500 năm tồn tại, năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập làng Giao Thủy (ấp Keo cũ), nơi có chùa tọa lạc. Từ đấy dân ấp Keo phải dời đi, một chuyển về Đông Nam hữu ngạn sông Hồng (nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) và xây dựng nên ngôi chùa Keo mới, thường được gọi là chùa Keo Dưới (Keo Hạ) hay chùa Keo Hành Thiện. Một bộ phận dân cư dời sang tả ngạn sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ trên đất Thái Bình và cũng dựng lên một ngôi chùa, gọi là chùa Keo Trên (Keo Thượng), chính là ngôi chùa Keo đang nói tới ở đây
3. Năm công nhận: Ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1419/QĐ-TTg xếp hạng Chùa Keo là Di tích Quốc gia Đặc biệt, cùng với 10 di tích khác của cả nước.
Ngày 28/4/1962, Bộ Văn hóa Thông tin đã ký quyết định xếp hạng Chùa Keo là Di tích lịch sử - Văn hoá cấp Quốc gia
4. Địa hình/Vị trí: Chùa Keo là một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn đến ngày nay, hiện nằm trên địa bàn xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Thái Bình là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ, là một bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng. Toàn tỉnh có diện tích 1.546,5  km², địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1–2 m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Thái Bình, cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía đông nam. Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnhthành phốHải DươngHưng Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định.
Thái Bình có đường bờ biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế. Biển Thái Bình nằm trong vùng biển vịnh Bắc Bộ, với đường bờ biển dài trên 50km và là một vùng biển rộng.
Tỉnh này có 4 con sông chảy qua: phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8492 km. Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam. Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình.
5. Thổ nhưỡng: Do đặc điểm sát biển nên các sông ở Thái Bình đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền từ 15–20 km. Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ, người ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc. 
6. Khí hậu: Thái Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô lạnh. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm Thái Bình đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển.
7. Dân cư: Theo thống kê từ cuộc điều tra dân số năm 2012, Thái Bình có dân số là 1.868.800 người, mật độ dân số trung bình 1.209 người/km2, phân bố không đồng đều giữa các đơn vị hành chính, mật độ cao nhất tại thành phố Thái Bình đạt 3.961 người/ km² và thấp nhất là huyện Tiền Hải đạt 945 người/ km². Nguồn lao động nông nghiệp có trình độ thâm canh cao so với cả nước vì đây là mảnh đất của nghề trồng lúa nước và các sản phẩm chăn nuôi. Với đặc điểm một tỉnh thuần nông, so với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng, Thái Bình là tỉnh duy nhất có tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng tỷ trọng cơ cấu kinh tế chung. Những năm qua, tỷ trọng của khu vực này đang có xu hướng giảm dần.
Thái Bình được coi là một trong những yếu tố cấu thành nên cái nôi của nền văn minh sông Hồng với nhiều nét văn hóa đặc sắc. Kho di sản văn hóa của văn minh sông Hồng cũng hết sức phong phú và độc đáo, với hàng nghìn lễ hội dân gian, hệ thống đình đền chùa đồ sộ, các làn điệu dân ca ngọt ngào, câu chèo tinh tế dung dị. Thái Bình được coi là vùng quê có đời sống tinh thần phong phú “sáng rối, tối chèo” nhiều trò chơi, trò diễn xướng dân gian nổi danh một thời nay vẫn được bảo lưu và phát huy trở thành một trong những nét độc đáo riêng có của vùng đất Thái Bình.
8. Tóm tắt nội dung:
8.1. Giá trị nổi bật

Chùa Keo Thái Bình với quy mô kiến trúc cổ rộng lớn bậc nhất trong các kiến trúc chùa chiền ở Việt Nam. Trải qua gần 400 năm tu bổ, tôn tạo, chùa Keo vẫn giữ nguyên bản sắc kiến trúc độc đáo của mình. Nhất là những công trình được tôn tạo thời Lê Trung Hưng .
Chùa Keo nổi tiếng là ngôi chùa cổ có kiến trúc đẹp, độc đáo bậc nhất cả nước. Được đánh giá là một kiệt tác nghệ thuật bằng gỗ lim, chùa Keo còn được xem là công trình nghệ thuật lớn nhất với hơn một trăm gian lớn nhỏ khác nhau. Toàn bộ công trình đều làm bằng gỗ lim và được các nghệ nhân điêu khắc thời nhà Hậu Lê chạm khắc rất tinh xảo. Sự độc đáo không chỉ bởi ngôi chùa được kiến tạo bởi hàng trăm gian nhà với kích thước hoàn toàn khác nhau, ngôi chùa còn sở hữu một gác chuông lớn bậc nhất, có kiến trúc độc đáo nhất cả nước. Nhìn từ trên xuống, mái của các tòa nhà có độ xòe rộng khác nhau, cao thấp chồng lên nhau như một lớp sóng cồn. Gác chuông chùa Keo với bộ mái kết cấu gần 100 đàn đầu voi là viên ngọc quý trong gia tài kiến trúc Việt Nam. Bộ cánh cửa chạm rồng là bộ cửa độc đáo của cả nước. Chùa còn bảo lưu được hàng trăm tượng Pháp và đồ tế thời Lê. Có thể nói Chùa Keo là một bảo tàng nghệ thuật đầu thế kỷ XVII, với nhiều kiệt tác đặc sắc.
8.2. Kiến trúc
Văn bia và địa bạ chùa Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng khoảng 58.000 m2. Toàn cảnh chùa Keo xây dựng thời đó gồm 21 công trình, với 157 gian gồm nhiều ngôi nhà làm thành những cụm kiến trúc khác nhau. Với những giá trị kiến trúc, văn hóa lịch sử, khoa học đặc biệt đã được xếp hạng của di tích, chùa Keo là một trong những ngôi chùa cổ đẹp bậc nhất của Việt Nam, là điểm đến hấp dẫn với du khách thập phương chiêm bái cảnh chùa trong ngày xuân và những ai yêu thích kiến trúc chùa cổ của Việt Nam. Trải qua trên ngót 400 năm, chùa đã được tu bổ, tôn tạo nhiều lần, vào các năm 1689, 1707, 1941, 1957, 2004. Xét về quy mô, bố cục, đặc điểm và nghệ thuật kiến trúc, có thể coi chùa Keo là một trong những công trình sáng giá nhất trong hệ thống chùa dạng thức “tiền Phật hậu Thánh” cũng như dạng thức chùa “trăm gian” ở Việt Nam. Hiện nay, toàn bộ kiến trúc chùa Keo còn 17 công trình kiến trúc chính, gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc" như: tam quan, chùa phật, điện thánh, gác chuông, hành lang và khu tăng xá, vườn tháp....
THÁI BÌNH – Chùa Keo - ảnh 2
THÁI BÌNH – Chùa Keo - ảnh 3
THÁI BÌNH – Chùa Keo - ảnh 4
Chùa Keo - Thần Quang Tự (nguồn internet)

8.2.1. Ngoại thất
Một trong những độc đáo của chùa Keo được coi là điểm nhấn về ngoại cảnh đó là cách bài trí cânh xây và hoa quý trong vườn, nghệ thuật sử dụng vườn hoa, hồ nước. Những gỗ, gạch lát, tường xây dựng bằng ván bưng, mái ngói mũi hài, cùng với việc sử dụng hệ thống hồ ba mặt chùa (phía trước hồ Nam, và hồ phía Đông, phía Tây) tạo cảm giác chiều cao thêm của công trình, vẻ lung linh, thoáng mát dễ chịu về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Quần thể chùa tạo nên một vẻ thâm nghiêm cổ kính vời bề dày lịch sử gần nghìn năm tuổi in bóng xuống ba mặt hồ hình chữ nhật ở phía trước và hai bên như một chứng nhân cho những thăng trầm của lịch sử. Xung quanh hồ những cây đại thụ xanh tốt quanh năm càng làm tăng thêm vẻ trầm mặc, huyền bí chốn cửa Thiền.
Những gian nhà được xếp nối nhau, bên trên đỉnh chóp mái ngói là hoa văn cách điệu hình tượng “cá chép hóa rồng”. Hai bên là dãy hành lang dẫn tới các gian thờ. Dãy hành lang này cũng được lợp mái ngói và chống bằng cột gỗ lim, rất ấn tượng. Những con đường lát đá sẽ đưa bạn đến gian thờ Phật, Thánh, gian thờ Tổ và tháp chuông.
Trong quần thể công trình kiến trúc ở chùa Keo, gác chuông là công trình nổi bật bậc nhất với độ cao và kiến trúc độc đáo theo kiểu “chồng diêm cổ các” với ba tầng 12 mái, trong khi các các chuông của các chùa cổ khác ở đồng bằng Bắc Bộ chỉ 2 tầng 8 mái. Bộ mái với kết cấu gần 100 đàn đầu voi và bộ cánh cửa chạm rồng độc đáo cả nước là viên ngọc quý trong gia tài kiến trúc Việt Nam. Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng. Gác chuông được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn. Ở tầng một có treo một khánh đá cao 1,20 m. Tầng hai có quả chuông đồng lớn đúc năm 1686 cao 1,30m, đường kính 1m. Hai quả chuông nhỏ treo ở tầng ba và tầng thượng cao 0,62 m, đường kính 0,69 m đều được đúc năm 1796. Gác chuông ngày nay còn là biểu tượng du lịch của tỉnh Thái Bình.
8.2.2. Nội thất
Chùa Keo bao gồm hai cụm kiến trúc: Khu Chùa là nơi thờ phật và khu Đền thánh thờ đức Dương Không Lộ - Vị đại sư thời nhà Lý có công dựng chùa. Nói về số gian và số công trình, có nhiều nghiên cứu đưa ra những số liệu khác nhau. Điều đặc biệt của chùa Keo là sự bố trí sắp đặt các giàn tượng pháp: lớp trên tòa Tam thế là nơi đặt tượng Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai; lớp thứ hai có Phật Di Đà, Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát đại Thế Trí; lớp thứ ba có Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu.
Bên cạnh kiến trúc cổ, chùa Keo còn lưu giữ rất nhiều pho tượng lâu đời. Khu chùa Phật là nơi tập trung nhiều nhất các pho tượng Phật có giá trị nghệ thuật cao vào thế kỷ 17, 18 đó là tượng Tuyết Sơn, La Hán, quan thế âm Bồ Tát... Đến chùa Keo chúng ta được tận mắt nhìn thấy những cổ vật có giá trị hàng trăm năm như: đôi chân đèn thời Mạc, đồ gốm thời Lê, thuyền rồng Long Đình, Phật Đình, nhang án thời Lê, tất cả đều được sơn son thếp vàng, du khách cũng có thể chiêm ngưỡng những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà tương truyền rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành. Và nhiều hiện vật độc đáo có một không hai như hàng trăm tượng các vị Pháp tăng và đồ tế thời Lê.
Không chỉ đặc sắc về mặt tượng pháp, hay những đồ cổ thâm nghiêm hàng trăm năm mà chùa Keo còn đẹp và giá trị bởi kiến trúc của nó kỳ công vào bậc nhất so với các chùa nổi tiếng ở nước ta.
Không gian kiến trúc chùa Keo được kiến trúc hiện đại coi như là một mẫu mực có tính truyền thống và tính thực dụng tiêu biểu cho kiến trúc thời hậu Lê. Mà ở đó, sự hài hòa giữa kiến trúc với môi trường được tuân thủ tuyệt đối. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ngôi chùa vẫn giữ nguyên nét kiến trúc cổ kính, vững chắc với thời gian, xứng danh kiến trúc đặc biệt quốc gia.
Linh Thùy (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:
http://dsvh.gov.vn/pages/news/preview.aspx?n=462&c=25
http://vnebk.sotite.com/doc/tam-quan-ve-chua-keo-thai-binh-mot-goc-nhin-doi-sanh-1534191.html
http://www.phatgiao.vn/bai-viet/di-tich-va-le-hoi-chua-keo-gia-tri-lich-suvan-hoa_844.html
http://www.thaibinh.gov.vn/dukhach/Pages/di-tich-danh-thang.aspx?ItemID=434

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác