THÁI BÌNH – Chùa Phúc Thắng

(Cinet - DL) - Chùa Phúc Thắng nằm ở làng Lạng xã Song Lãng, nay là huyện Vũ Thư, cách thành phố Thái Bình khoảng 10km.
Di tích/Di sản: Chùa Phúc Thắng còn có tên gọi là chùa Hội, hay chùa Lạng
Thời gian: Căn cứ vào những đôi câu đối, những dấu tích và hiện vật còn lưu lại trong chùa, những gia phả của những dòng họ lớn trong xã… có thể khẳng định chùa Phúc Thắng có từ thời Lý, khoảng thế kỷ XI
Năm công nhận: Ngày 21/01/1989, Bộ Văn hóa Thông tin ký ban hành Quyết định số 100/VHQĐ công nhận chùa Phúc Thắng là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia
Địa hình/Vị trí: Chùa Phúc Thắng nằm ở làng Lạng xã Song Lãng, nay là huyện Vũ Thư, cách thành phố Thái Bình khoảng 10km.
Thái Bình là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ, là một bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng. Toàn tỉnh có diện tích 1.546,5  km², địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1–2 m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Thái Bình, cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía đông nam. Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnhthành phốHải DươngHưng Yên, Hải
THÁI BÌNH – Chùa Phúc Thắng - ảnh 1
Chùa Phúc Thắng (nguồn internet)
Phòng, Hà Nam, Nam Định.
Thái Bình có đường bờ biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế. Biển Thái Bình nằm trong vùng biển vịnh Bắc Bộ, với đường bờ biển dài trên 50km và là một vùng biển rộng.
Tỉnh này có 4 con sông chảy qua: phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8492 km. Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam. Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình.
Thổ nhưỡng: Do đặc điểm sát biển nên các sông ở Thái Bình đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền từ 15–20 km. Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ, người ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc. 
Khí hậu: Thái Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô lạnh. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm Thái Bình đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển.
Dân cư: Theo thống kê từ cuộc điều tra dân số năm 2012, Thái Bình có dân số là 1.868.800 người, mật độ dân số trung bình 1.209 người/km2, phân bố không đồng đều giữa các đơn vị hành chính, mật độ cao nhất tại thành phố Thái Bình đạt 3.961 người/ km² và thấp nhất là huyện Tiền Hải đạt 945 người/ km². Nguồn lao động nông nghiệp có trình độ thâm canh cao so với cả nước vì đây là mảnh đất của nghề trồng lúa nước và các sản phẩm chăn nuôi. Với đặc điểm một tỉnh thuần nông, so với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng, Thái Bình là tỉnh duy nhất có tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng tỷ trọng cơ cấu kinh tế chung. Những năm qua, tỷ trọng của khu vực này đang có xu hướng giảm dần.
Thái Bình được coi là một trong những yếu tố cấu thành nên cái nôi của nền văn minh sông Hồng với nhiều nét văn hóa đặc sắc. Kho di sản văn hóa của văn minh sông Hồng cũng hết sức phong phú và độc đáo, với hàng nghìn lễ hội dân gian, hệ thống đình đền chùa đồ sộ, các làn điệu dân ca ngọt ngào, câu chèo tinh tế dung dị. Thái Bình được coi là vùng quê có đời sống tinh thần phong phú “sáng rối, tối chèo” nhiều trò chơi, trò diễn xướng dân gian nổi danh một thời nay vẫn được bảo lưu và phát huy trở thành một trong những nét độc đáo riêng có của vùng đất Thái Bình.
Tóm tắt nội dung: Làng Lạng hay còn gọi là làng Ngoại Lãng thuộc xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, cách thành phố Thái Bình khoảng 10km. Huyền tích về vùng đất này cũng thật kỳ bí. Đó là vào thế kỉ IX sau công nguyên, Cao Biền, nhà phong thủy đến làm kinh lược sứ An Nam đã đi khắp các châu, quận trên đất An Nam ra tay yểm triệt để đất An Nam không phát đế vương, cũng như không thể là chốn địa linh nhân kiệt mà đối chọi với phương Bắc… Đến vùng đất Chiểu Lãng – Ba Đậu ông ta nhận thấy nơi đây là thế đất: Địa phát khôi khoa. Trung tâm chính của vùng đất Chiểu Lãng – Ba Đậu ấy chính là làng Lạng, xã Song Lãng, thuộc huyện Thư Trì cũ và Vũ Thư nay. Thực sự Cao Biền có dùng hết tài phép yểm triệt hay không nhưng nơi đây vẫn sinh ra nhiều người hiền tài như Trần Củng Uyên - tiến sĩ khoa Bính Thìn 1496 triều Lê Thánh Tông. Còn cả Đỗ Lí Khiêm - Trạng nguyên khoa Kỉ Mùi 1499… và đặc biệt là sự ra đời một danh nhân văn hoá với tư cách là một nhà Thiền học có nhiều ảnh hưởng đến giáo phái Hoàng Giang ở Việt Nam đó là Đỗ Đô - vị thiền sư được tôn thờ trong chùa Phúc Thắng.
THÁI BÌNH – Chùa Phúc Thắng - ảnh 2
THÁI BÌNH – Chùa Phúc Thắng - ảnh 3
THÁI BÌNH – Chùa Phúc Thắng - ảnh 4
Chùa Phúc Thắng (nguồn internet)

Căn cứ vào những đôi câu đối những dấu tích và hiện vật còn lưu lại trong chùa, những gia phả của những dòng họ lớn trong xã… có thể khẳng định chùa Phúc Thắng có từ thời Lý nơi thờ Đỗ Đô.
Theo ngọc phả Từ Thượng và truyền thuyết dân gian Đỗ Đô tức Đỗ Sinh Công sinh ngày 9 tháng giêng năm Nhâm Ngọ (1042) tức là năm Minh Đạo thứ nhất triều Lý Thái Tông. Thuở nhỏ, mặc dù con nhà nghèo nhưng ông rất hiếu học và sáng dạ. Đỗ Đô là bạn đồng đạo của Không Lộ và Đạo Hạnh. Ông được các phái đạo thuật thời bấy giờ suy tôn là Giáo chủ phái Hoàng Giang. Điều quan trọng có ý nghĩa đặc biệt khác với đồng đạo đương thời là ông được các vị sáng lập ra phái trúc lâm thời Trần sau này nhận làm bậc thầy đi trước. Nhà thờ ông ở Song Lãng hiện còn câu đối: “Chiếm Bạch Liên khoa Lý thế nhị tông suy thượng phụ, Diễn Hoàng Giang phái, Trúc Lâm tam tổ nhận tiền sư”. Nghĩa là: Đỗ khoa Bạch Liên ở Trung Quốc, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông suy tôn là bậc trượng phu. Diễn giải giáo lí phái Hoàng Giang, ba vị tổ phái Trúc Lâm đời Trần suy tôn là thầy đi trước. Thuở bình sinh, Đỗ Đô luôn có ý thức mở mang việc học cho quê hương. Có thể xem ông là người thầy có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp học hành thi cử của làng Lạng. Với tài cao, đức rộng nên Đỗ Đô được vua Lý Thánh Tông rất tin yêu, kính trọng ban cho chức tăng quan đứng đầu hàng tăng sư, ban đạo hiệu Đạt mạn thiền sư không gọi tên để tỏ lòng kính trọng. Ông có nhiều công lao đóng góp cho dân chúng trong làng, xã, huyện, tỉnh. Thương dân tình đói khổ khó khăn ông đã xin miễn thuế khoá tạp dịch cho dân, ngày ngày khuyên dân chăm việc đồng áng, sửa bỏ thói hư tật xấu, sửa sang đường sá, góp công sức đắp đê sông Hoàng (khúc sông chảy qua địa phận Thư Trì cũ). Chính vì vậy mà Thái Bình – Song Lãng luôn được mùa no đủ. Cả hàng trăm năm sau này, Thái Bình luôn là vựa lúa của cả miền Bắc, là “quê hương 5 tấn” cũng vì lẽ đó? Ông là người rất giỏi về y thuật tận tình chăm sóc cứu chữa chúng sinh.
Sau khi thiền sư qua đời với những công lao đóng góp của Ngài, nên vua Lý đã cho dân làng lập đền thờ thiền sư trên nền hành cung hiện nay để dân Ngoại Lãng và du khách tôn thờ và tưởng nhớ.
Trong chùa hiện nay còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị rất lớn về mặt lịch sử cũng như nghệ thuật như cồng - được đúc vào năm Quí Dậu (1693) tức năm Chính Hoà thứ 14 đời vua Lê Hy Tông do cụ Nguyễn Chí Công vị thượng tổ họ Nguyễn cúng, được sử dụng vào đêm giao thừa (người trông nom đền được quyền đánh 3 hồi cồng – với ý niệm dùng để truyền tải, truyền đạt lòng dân trăm họ đến với thần linh mong được thần linh che chở và cũng là để báo cho nhân dân lên đền lễ thánh lấy lộc rồi về xông nhà, tiếng cồng còn là hiệu lệnh báo lễ rước kiệu bắt đầu), “cột tịnh truỳ” làm bằng gỗ trầm hương (là một cái chày thanh tịnh đường kính 15cm, dài 0m80 đầu chày ở phía dưới hơi thắt, trổ hoa sen đặt trên một giá đỡ) được dùng làm linh khí cầu chúc cho quốc thái dân an. Ngoài ra trong chùa còn lưu giữ nhiều binh khí thời Lý.
Cũng như nhiều ngôi chùa khác trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đô hộ, chùa Phúc Thắng là căn cứ cách mạng, nơi nuôi giấu, che chở cho cán bộ, du kích… Toàn bộ cụm di tích gồm trang miếu Thái Bảo Đỗ Vinh Công (tức Đỗ Đô); đền Thượng nơi thờ cúng thượng sư khi Ngài hoá thạch Tượng Tháp nơi thờ bà Đỗ Thị Doanh người góp nhiều công của xây dựng chùa; nhà thờ Tổ. Tất cả được thiết kế theo kiểu chữ Vương. Để tưởng nhớ tới công lao của vị thiền sư này cứ hai năm hội được tổ chức một lần. Lễ hội được mở từ ngày mồng 6 đến 11 tháng giêng âm lịch. Trong lễ hội có rước kiệu thánh, lễ phật, cúng khoa, khai bát trí thực và thông hành tịnh truỳ. Ngoài ra còn tổ chức nhiều  trò chơi dân gian như vật cổ truyền đặc biệt là thi sắp cỗ chay, vừa cổ truyền vừa độc đáo.
Linh Thùy tổng hợp
Nguồn tài liệu tham khảo:

http://ditichlichsuvanhoa.com/dttc/CHUA-HOI-(PHUC-THANG)-VA-DEN-THUONG-a683.html
http://tinhtam.vn/threads/chua-hoi-va-den-thuong.104/
http://thaibinhtourism.com.vn/Tin-Tuc/DTDT/682_Lang-Lang---lang-van-hoa-dan-gian-dac-sac

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác