THÁI BÌNH – Đền Tiên La

(Cinet - DL) - Đền Tiên La thuộc thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
1. Di tích/Di sản: Đền Tiên La
2. Thời gian: Đền Tiên La là di tích lịch sử thờ Bát Nàn tướng quân (tướng quân phá nạn cho dân, có nơi gọi là "bát nạn" hay "bát não") Vũ Thị Thục, một nữ tướng của Hai Bà Trưng có công góp sức đánh bại Thái Thú Tô Định. Bà sinh năm 17, mất năm 43 (sau Công nguyên), trong một trận đánh lớn với quân nhà Hán. Tại nơi tương truyền bà đã tuẫn tiết, người dân Tiên La gom góp vật liệu xây dựng ngôi đền nhỏ thờ bà và hương khói, hàng ngàn năm nay không bao giờ tắt. Ngôi đền có bề dày lịch sử từ đó đến nay gần hai ngàn năm.
THÁI BÌNH – Đền Tiên La - ảnh 1
Đền Tiên La (nguồn internet)

3. Năm công nhận: Ngày 12/11/1986, Bộ Văn hóa Thông tin đã ký ban hành Quyết định số 235/-VH/QĐ công nhận Đền Tiên La là Di tích Lịch sử Văn hoá cấp Quốc gia.
4. Địa hình/Vị trí: Đền Tiên La thuộc thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Thái Bình là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ, là một bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng. Toàn tỉnh có diện tích 1.546,5  km², địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1–2 m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Thái Bình, cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía đông nam. Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnhthành phốHải DươngHưng Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định.
Thái Bình có đường bờ biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế. Biển Thái Bình nằm trong vùng biển vịnh Bắc Bộ, với đường bờ biển dài trên 50km và là một vùng biển rộng.
Tỉnh này có 4 con sông chảy qua: phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8492 km. Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam. Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình.
5. Thổ nhưỡng: Do đặc điểm sát biển nên các sông ở Thái Bình đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền từ 15–20 km. Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ, người ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc. 
6. Khí hậu: Thái Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô lạnh. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm Thái Bình đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển.
7. Dân cư: Theo thống kê từ cuộc điều tra dân số năm 2012, Thái Bình có dân số là 1.868.800 người, mật độ dân số trung bình 1.209 người/km2, phân bố không đồng đều giữa các đơn vị hành chính, mật độ cao nhất tại thành phố Thái Bình đạt 3.961 người/ km² và thấp nhất là huyện Tiền Hải đạt 945 người/ km². Nguồn lao động nông nghiệp có trình độ thâm canh cao so với cả nước vì đây là mảnh đất của nghề trồng lúa nước và các sản phẩm chăn nuôi. Với đặc điểm một tỉnh thuần nông, so với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng, Thái Bình là tỉnh duy nhất có tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng tỷ trọng cơ cấu kinh tế chung. Những năm qua, tỷ trọng của khu vực này đang có xu hướng giảm dần.
Thái Bình được coi là một trong những yếu tố cấu thành nên cái nôi của nền văn minh sông Hồng với nhiều nét văn hóa đặc sắc. Kho di sản văn hóa của văn minh sông Hồng cũng hết sức phong phú và độc đáo, với hàng nghìn lễ hội dân gian, hệ thống đình đền chùa đồ sộ, các làn điệu dân ca ngọt ngào, câu chèo tinh tế dung dị. Thái Bình được coi là vùng quê có đời sống tinh thần phong phú “sáng rối, tối chèo” nhiều trò chơi, trò diễn xướng dân gian nổi danh một thời nay vẫn được bảo lưu và phát huy trở thành một trong những nét độc đáo riêng có của vùng đất Thái Bình.
8. Tóm tắt nội dung:
8.1. Giá trị nổi bật

Đền Tiên La được xây tại gò Kim Quy, nằm giữa thôn Tiên La, mặt trước đền hướng ra sông Tiên Hưng gần ngã ba đổ ra sông Luộc, trên diện tích gần 6.000m2. Điều đặc biệt là toàn bộ vật liệu xây dựng ở toà bái đường đều làm bằng đá như hệ thống cột, xà, kèo... Tất cả đều được chạm trổ công phu tạo nên cho nơi này toát lên vẻ đẹp hoàn mỹ hiếm nơi nào có được. Cùng với kiến trúc đặc sắc, đền còn lưu giữ nhiều đồ tế khí, đồ thờ, các bia đá, minh chuông có niên đại từ thời Trần, Lê, các sắc phong thần như: Ý Đức Đoan Trang Thục công chúa (đời Vua Lê Thánh Tông), Dực Bảo Trung Hưng linh phù chi thần (đời vua Minh Mạng ), Dực Bảo Trung Hưng linh phù Thượng đẳng thần (đời vua Khải Định… làm tăng giá trị ngôi đền.
THÁI BÌNH – Đền Tiên La - ảnh 2
THÁI BÌNH – Đền Tiên La - ảnh 3
THÁI BÌNH – Đền Tiên La - ảnh 4
Đền Tiên La (nguồn internet)

8.2. Kiến trúc
Kiến trúc đền bao gồm nhiều công trình như hệ thống cổng đền, tòa tiền tế, tòa trung tế, thượng điện và hệ thống sân đền, giếng ngọc…. Trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo, đến nay đền có quy mô lớn và đẹp, cả về địa thế và vóc dáng. Toàn bộ ngôi đền làm theo cấu trúc “Tiền nhất – Hậu đinh”. Nét đặc sắc trong kiến trúc của ngôi đền là từ cột, kèo đến đao mái uốn cong và mang dáng hình con rồng bay lên (lưỡng long chầu nguyệt). Qua cổng (Tam quan ngoại), vào sân đền là Tam quan nội và hai bên có Lầu Cô, Lầu Cậu. Bước lên tòa Tiền Tế gồm năm gian, ta sẽ bắt gặp những bức đại tự với các câu đối cổ ca ngợi triều Trưng Vương và phẩm hạnh, tài sắc của nữ tướng Bát Nàn. Tòa điện Bái đường và thượng điện của đền được kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết, nội thất được chạm trổ long- lân- quy- phượng xen lẫn với thông- cúc- trúc- mai rất tinh xảo. Tòa điện Trung tế là công trình kiến trúc đặc sắc được xây dựng theo kiểu phương đình, kiến trúc theo lối “Chồng diêm cố các”. Điều đặc biệt là toàn bộ vật liệu xây dựng ở tòa bái đường đều được làm bằng đá như hệ thống cột đá, xà đá, kèo đá… tòa điện được xây bằng mười sáu cột đá lớn, tám xà đá và tám kèo đá. Hệ thống cột, kèo, xà đá đều được chạm khắc rất công phu và tinh xảo. Bốn cột cái chạm tứ linh, mười hai cột quân chạm long vân, tám xà chạm thông- cúc- trúc- mai xen lẫn long- ly- quy- phượng… Tòa cuối của đền là Hậu cung gồm ba gian nằm sâu bên trong, tương truyền đây là nơi có mộ của bà. Trên nóc hiện còn bức đại tự rất quý đề bốn chữ: “Anh Linh Vạn Cổ” bằng chữ Hán. Gian giữa Hậu cung đặt một ban thờ, trên có ngai và tượng Bát Nạn tướng quân Vũ Thị Thục, xung quanh thờ các tướng sỹ và quân lính của bà. Gian bên trái thờ thân phụ, gian bên phải thờ thân mẫu của bà. Các ngai thờ và tượng thờ đều có từ lâu đời, theo các nhà nghiên cứu về chữ và cách chạm khắc thì có từ thời Tiền Lê, một số thuộc thời Trần và Hậu Lê. Ngoài ra, đền còn lưu giữ được nhiều đồ tế khí có giá trị thẩm mỹ niên đại từ thời Lê, các tài liệu như thần tích và sắc phong thần từ thời Lê đến thời Nguyễn, các bia đá, minh chuông… đều có giá trị lịch sử quý giá.      
Đền Tiên La thực sự xứng đáng là một ngôi đền cổ với những nét đẹp riêng có vùng quê Thái Bình, với những giá trị lịch sử và vị trí cũng như với lối kiến trúc độc đáo.
Linh Thùy (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo

http://www.vietnamtourism.com/index.php/tourism/items/1521
http://hungha.gov.vn/Du-lich---Le-hoi/2/95/Huyen-Hung-Ha-khai-mac-le-hoi-Den-Tien-La-nam-2015_1545.htm
http://www.baothaibinh.com.vn/34/26541/Khai_mac_le_hoi_Den_Tien_La_nam_2014.htm

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác